Bảo tàng Quân khu 4

Bảo tàng Quân khu 4 Địa chỉ: Số 189 Đường Lê Duẩn, Tp.Vinh, Nghệ An.

Mảnh nhựa khắc chữ “Bùi Văn Biên"Trên địa bàn xã Bình Điền, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là xã Bình Điền, T...
25/06/2026

Mảnh nhựa khắc chữ “Bùi Văn Biên"
Trên địa bàn xã Bình Điền, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là xã Bình Điền, TP Huế) có di tích trại giam tỉnh Thừa Thiên Huế trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Nơi đây, ngụy quyền đã sử dụng để giam cầm nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng. Theo thông tin do các cựu chiến binh cung cấp, tại khu vực này từng có một nghĩa trang địch chôn cất bộ đội ta hy sinh trong quá trình giam giữ. Sau ngày thống nhất đất nước, các lực lượng chức năng đã tiến hành khai quật, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ (HCLS) tại khu vực này.
Tháng 3-2012, Ban Chính sách xã Bình Điền nhận tin báo từ nhân dân tiếp tục phát hiện HCLS tại khu vực gần trại giam cũ, sau đó phối hợp tổ chức khai quật, tìm kiếm. Quá trình khai quật, lực lượng chức năng phát hiện nhiều HCLS nằm chung trong mộ tập thể. Trong đó, một HCLS có di vật nằm cùng mảnh nhựa cứng màu đen, kích thước 4x2cm, có khắc chữ ở cả hai mặt. Chữ được khắc cẩn thận, rõ nét. Một mặt khắc chữ “Bùi Văn Biên” theo kiểu chữ triện, mặt còn lại khắc "Cồn Tiên Quảng Trị 26.3.1975".
Sau khi khai quật, HCLS được đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Bình Điền. Ngày 10-5-2012, di vật được đưa về bảo quản, trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4.

KÝ ỨC KHÔNG PHAI CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG LÊ THỊ LỤCỞ tuổi 104, sức khỏe đã yếu đi nhiều, nhưng mỗi khi nhắc về người ch...
24/06/2026

KÝ ỨC KHÔNG PHAI CỦA MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG LÊ THỊ LỤC
Ở tuổi 104, sức khỏe đã yếu đi nhiều, nhưng mỗi khi nhắc về người chồng và người con trai đã hy sinh cho Tổ quốc, đôi mắt Mẹ Việt Nam Anh hùng Lê Thị Lục vẫn ánh lên niềm tự hào xen lẫn xúc động.
Trong căn nhà nhỏ ở xóm 1, xã Thiên Nhẫn (trước đây là xã Nam Phúc, huyện Nam Đàn), tỉnh Nghệ An, mẹ chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về những năm tháng chiến tranh đầy gian khó của gia đình mình - những ký ức thấm đẫm đau thương nhưng cũng vô cùng thiêng liêng.
Chỉ trong chưa đầy một năm, mẹ lần lượt tiễn biệt chồng rồi đến con trai
Sinh ra trong một gia đình nhà nho, lớn lên, mẹ Lê Thị Lục kết duyên cùng ông Võ Đình Dung và sinh được 10 người con (5 trai, 5 gái). Nhắc về chồng, giọng mẹ chùng xuống: “Ông nhà tôi sống mẫu mực lắm. Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm cán bộ tài chính của huyện Nam Đàn. Đến thời kỳ chống Mỹ, ông là Trung đội trưởng Trung đội Dân quân trực chiến xã Nam Phúc. Dù ở cương vị nào, ông cũng tận tụy, trách nhiệm với công việc, hết lòng vì bà con làng xóm”.
Những năm tháng chiến tranh ác liệt, đế quốc Mỹ liên tiếp cho máy bay đánh phá địa bàn xã Nam Phúc. Là người chỉ huy lực lượng dân quân trực chiến, ông Võ Đình Dung luôn có mặt ở những nơi nguy hiểm nhất để tổ chức chiến đấu, giúp nhân dân sơ tán an toàn.
Ngày 6-8-1972, cũng như bao ngày khác, ông dậy từ sớm ra trận địa chỉ huy trung đội làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Thế nhưng, sau một trận oanh tạc của máy bay Mỹ, ông anh dũng hy sinh khi đang chỉ huy đơn vị đánh trả địch. Sự ra đi đột ngột của người bạn đời khiến bà Lục đau đớn đến quặn lòng...
Nỗi đau ấy chưa kịp nguôi ngoai thì ngày 26-1-1973, mẹ lại nhận hung tin người con trai đầu là anh Võ Đình Quang hy sinh tại chiến trường Quảng Trị. Chỉ trong chưa đầy một năm, mẹ lần lượt tiễn biệt chồng rồi đến con trai. Những mất mát quá lớn tưởng như có thể quật ngã người phụ nữ nhỏ bé ấy. Nhưng nhìn các con còn thơ dại, mẹ lại gượng dậy, thay chồng gánh vác công việc gia đình.
Mẹ lặng người giây lát khi nhìn lên di ảnh người con trai cả: “Thằng Quang hiền lành, học giỏi lắm. Việc gì cũng xông xáo, nhiệt tình, sống chan hòa với mọi người”. Theo lời mẹ kể, năm 1970, khi đang là sinh viên năm thứ hai Trường Đại học Mỏ - Địa chất, anh Võ Đình Quang gác lại việc học để lên đường nhập ngũ, biên chế vào Sư đoàn 325, chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị. Khi ấy, anh là một đảng viên trẻ, giữ cương vị Phó bí thư Đoàn trường.
Mẹ vẫn nhớ như in lần cuối cùng gặp con trai. Hôm ấy, đơn vị hành quân vào Nam, anh tranh thủ ghé qua nhà. Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi không có nhiều lời dặn dò nhưng trong ánh nhìn của hai mẹ con đều chất chứa bao điều không nói thành lời. Mẹ nén xúc động để con yên lòng lên đường làm nhiệm vụ. Bởi hơn ai hết, mẹ hiểu rằng độc lập, tự do của dân tộc không bao giờ có được từ sự bình yên dễ dàng. Để đất nước thống nhất, mẹ sẵn sàng dâng hiến cho Tổ quốc những điều thiêng liêng nhất của cuộc đời mình.
Âm thầm góp sức nơi hậu phương
Không chỉ tiễn chồng, con ra trận, trong những năm kháng chiến chống Mỹ, mẹ còn âm thầm góp sức nơi hậu phương. Ngôi nhà nhỏ của mẹ nằm trên tuyến đường 15B, gần trạm giao liên - nơi các đơn vị bộ đội hành quân vào Nam thường dừng chân nghỉ ngơi. Mỗi lần bộ đội ghé qua, mẹ lại xung phong lo cơm nước, nhường chỗ ở cho các chiến sĩ.
Trong số những người lính từng được mẹ cưu mang, mẹ nhớ nhất là anh Vinh, một chiến sĩ quê Hà Nội. Ngày ghé qua nhà mẹ, anh lên cơn sốt rét ác tính, thân thể gầy yếu, kiệt sức. Mẹ tận tình chăm sóc, sắc thuốc, nấu cháo, thức khuya dậy sớm lo cho anh từng chút một. Suốt gần một tháng được mẹ chăm nom, anh dần hồi phục sức khỏe để tiếp tục lên đường vào Nam chiến đấu.
Tình cảm chân thành của người mẹ nơi hậu phương năm ấy đã trở thành nguồn động viên lớn đối với người lính trẻ giữa những tháng ngày bom đạn. Sau ngày đất nước hòa bình, anh Vinh nhiều lần trở lại thăm mẹ và vẫn xem mẹ như mẹ ruột. Với anh, đó không chỉ là nghĩa cưu mang trong chiến tranh, mà còn là tình cảm thiêng liêng không gì thay thế được.
Ghi nhận những đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mẹ Lê Thị Lục được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhất. Ngày 23-1-2015, mẹ vinh dự được phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Giờ đây, ở tuổi “xưa nay hiếm”, nhưng ký ức về những năm tháng chiến tranh vẫn còn vẹn nguyên trong tâm trí mẹ. Đó là ký ức của những lần tiễn biệt nghẹn lòng, của những tháng ngày âm thầm chịu đựng mất mát, hy sinh; nhưng cũng là ký ức của niềm tin son sắt vào ngày đất nước hòa bình, thống nhất. Suốt cuộc đời mình, mẹ đã dành trọn tuổi xuân, hạnh phúc riêng cho Tổ quốc để hôm nay, các thế hệ con cháu được sống trong hòa bình, độc lập.

Nhiều Hài cốt Liệt sĩ có di vật kèm theo có thông tinTừ ngày 19/5 đến ngày 30/12/2025, quá trình tìm kiếm HCLS ở thôn Xa...
16/06/2026

Nhiều Hài cốt Liệt sĩ có di vật kèm theo có thông tin
Từ ngày 19/5 đến ngày 30/12/2025, quá trình tìm kiếm HCLS ở thôn Xa Re, xã Hướng Tân, huyện Hướng Hoá (cũ) này là xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị, Đội Quy tập HCLS Đoàn KT-QP 337, Quân khu 4 đã phát hiện và quy tập được 25 HCLS và đã tổ chức an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Khe Sanh..
Tháng 5 năm 2025, Đội quy tập HCLS, Đoàn KT-QP337, Quân khu 4 nhận tin báo từ các công nhân thi công công trình điện gió trên địa bàn thôn Xa Re, xã Hướng Tân, huyện Hướng Hoá (cũ) nay là xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị về việc phát hiện nhiều đồ dùng và hài cốt nghi của bộ đội hi sinh trên địa bàn. Sau khi nhận tin báo, Đội quy tập đã tổ chức rà soát, tìm kiếm từ ngày 19/5 đến 30/12/2025 và quy tập được 25 hài cốt liệt sĩ được chôn cất trên địa bàn thôn Xa Re. Quá trình quy tập 25 HCLS cho thấy các HCLS nằm ở độ sâu 0,8-1m, được bọc trong bao tử sĩ còn có nhiều xương cốt, các liệt sĩ phân bố rải rác, cách nhau từ 15 - 20m, có kèm nhiều di vật trong phần mộ. Di vật gồm: tăng nguyên tấm, vải dù, dây dù, cúc áo, đế dày, khuy dày, mắt nịt, nắp hộp dầu, lọ thuỷ tinh, dây thông tin… và đặc biệt nhiều HCLS có di vật chứa các thông tin như bình tông có tên, miếng nhôm, miếng nhựa có ký hiệu và phiên hiệu (nghi là phiên hiệu có đơn vị), nhiều di vật có xâu quai đeo (tương tự kiểu đeo vào tay liệt sĩ)
Cụ thể:
1. HCLS phát hiện ngày 26/5/2025 có bình tông đi kèm trên đó khắc chữ “Phiết” hoặc “Phiệt” và một biển nhỏ đeo tay làm bằng nhôm có dòng chữ “SH-2- 526”.
2. HCLS phát hiện ngày 27/5/2025, có di vật là một biển nhỏ đeo tay làm bằng nhựa có dòng chữ “SH-18- 47X”.
3. HCLS phát hiện ngày 20/8/2025 có di vật là một biển nhỏ đeo tay làm bằng nhôm có dòng chữ “SH-18- 15X”.
4. HCLS phát hiện ngày 01/11/2025, có di vật là một biển nhỏ làm bằng nhôm có dòng chữ “SH 1- 99X”.
Qua nghiên cứu các đặc điểm của di vật và thông tin kèm theo, nhận thấy các di vật có chung hình thức kí hiệu quy ước nên có khả năng đây là khu vực nghĩa trang của một đơn vị từng chiến đấu trên địa bàn Khe Sanh, có thể khi chôn cất liệt sĩ đơn vị các cán bộ làm công tác chính sách đã lập kí hiệu các liệt sĩ để lưu giữ. Theo thông tin từ Phòng Nội vụ huyện Hướng Hoá (cũ), tỉnh Quảng Trị cung cấp thì vị trí phát hiện 25 HCLS trước đây có các đơn vị thuộc Sư đoàn 304, Quân đoàn 2 tham gia chiến đấu ở mặt trận Khe Sanh. Hiện nay hài cốt các liệt sĩ được an táng tại nghĩa trang liệt sỹ xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị.

Các mảnh nhôm khắc số “326” và “329”Mùa khô 2007-2008, Đội quy tập 589, Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình (nay là Bộ CHQS tỉnh Quả...
08/06/2026

Các mảnh nhôm khắc số “326” và “329”

Mùa khô 2007-2008, Đội quy tập 589, Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình (nay là Bộ CHQS tỉnh Quảng Trị) tổ chức thực hiện nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam hy sinh trên nước bạn Lào.

Trong quá trình tìm kiếm, Đội được giới thiệu chỉ dẫn tới nghĩa trang Na Phần, khu vực Lằng Khằng (huyện Bua La Pha, tỉnh Khăm Muộn). Qua các nguồn tin, Đội được biết, tại đây có nhiều phần mộ của cán bộ, chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.

Đội tiến hành các thủ tục khai quật các phần mộ trong nghĩa trang và phát hiện nhiều di vật là quân, tư trang nằm cùng HCLS. Trong đó, phần mộ liệt sĩ số 6 có di vật là một tấm nhôm, cắt từ xác máy bay Mỹ, kích thước 16x12,5cm. Trên mảnh nhôm đục các lỗ nhỏ tạo thành các con số 326, mặt còn lại không có ký hiệu. Tiếp đến, ngôi mộ số 9 khi khai quật cũng có một tấm nhôm kích thước 18x11cm, đục các lỗ thành số 329, mặt còn lại không có ký hiệu. Cả hai mảnh nhôm đều đục hai lỗ phía trên và phía dưới dùng dây dù buộc vào tăng bạt bọc thi hài liệt sĩ.

Năm 2008, HCLS được đưa về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Ba Dốc, tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị). Ngày 15-5-2012, di vật được đưa về bảo quản, trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4.

Bia mộ của Liệt sĩ Vi Văn Đức được khắc bằng chữ LàoMùa khô 1999-2000, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) thuộc Bộ CHQS ...
08/06/2026

Bia mộ của Liệt sĩ Vi Văn Đức được khắc bằng chữ Lào

Mùa khô 1999-2000, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ (HCLS) thuộc Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa tiến hành tìm kiếm, quy tập HCLS bên nước bạn Lào.

Khi tìm kiếm trên địa bàn tỉnh Houaphan (Lào), Đội được các cơ quan chức năng và người dân địa phương tận tình cung cấp thông tin, chỉ dẫn. Qua các nguồn tin thu thập được, Đội đến bản Na Leng, huyện Muang Et, tỉnh Houaphan. Tại đây, Đội được 4 người dân gồm 3 nữ và 1 nam báo tin trong nghĩa trang của bản có một mộ phần của bộ đội Việt Nam. Ngôi mộ được người dân thường xuyên thắp hương, chăm sóc cẩn thận. Tấm bia trên mộ được người dân Lào đắp thủ công bằng xi măng, kích thước 19x45x12cm, mặt trước vuốt hơi tròn, trên đó khắc chữ Lào, dịch sang tiếng Việt là “Liệt sĩ Vi Văn Đức, hy sinh 1953”.

Sau khi xác minh thông tin, làm các thủ tục cần thiết, đội tiến hành khai quật và quy tập HCLS đưa về Việt Nam. Ngày 14-1-2000, HCLS được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Hàm Rồng (tỉnh Thanh Hóa). Tấm bia mộ của Liệt sĩ Vi Văn Đức khắc bằng chữ Lào được đưa về bảo quản, trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4

Thực hiện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy m...
08/06/2026

Thực hiện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị về triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ phát động, Bảo tàng Quân khu 4 phối hợp với Báo Quân đội nhân dân giới thiệu những kỷ vật, di vật chứa đựng thông tin về liệt sĩ, góp phần kết nối đồng đội, thân nhân và cơ quan chức năng phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Theo tin báo của nhân dân, tháng 12-2012, Đội quy tập hài cốt liệt sĩ 192, Bộ CHQS tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP Huế) tổ chức cất bốc hài cốt liệt sĩ (HCLS) tại km38, đường 74, khu vực trạm xá Nam Đông (nay là xã Nam Đông, TP Huế). Tại đây, đội tiến hành khai quật và tìm thấy 3 HCLS được chôn cất theo hình tam giác. Các HCLS được bọc trong bạt che mưa và nối liền nhau bằng 1 sợi dây dù, cách nhau gần 1,5m. Cùng với đó, nhiều di vật nằm cùng HCLS cũng được tìm thấy như: Bạt, tăng, quân phục, ba lô, dây dù... Trong đó, nằm cùng HCLS số 3, có một chiếc bình tông chất liệu nhôm, do Trung Quốc sản xuất, trang bị cho bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chiếc bình tông đã hoen gỉ, bị móp méo, có khắc chữ “Tiếp”.

Ngày 10-12-2012, các HCLS được quy tập và an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ TP Huế. Ngày 18-12-2012, chiếc bình tông có khắc chữ “Tiếp” được đưa về bảo quản, trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 4.

08/06/2026

69 năm đã trôi qua kể từ ngày Bác Hồ kính yêu về thăm Quân khu 4 (15/6/1957 - 15/6/2026), nhưng những hình ảnh và lời dạy của Người vẫn còn nguyên giá trị. Đó là nguồn động lực thiêng liêng, soi đường cho cán bộ, chiến sĩ Lực lượng vũ trang Quân khu 4 tiếp tục giữ vững truyền thống, viết tiếp những trang sử vẻ vang của quê hương và đất nước.

04/06/2026
Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Duân – ký ức còn mãi với thời gian.Chiến tranh đã lùi xa trong dĩ vãng, mảnh đất Phúc Lộ...
04/06/2026

Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Duân – ký ức còn mãi với thời gian.

Chiến tranh đã lùi xa trong dĩ vãng, mảnh đất Phúc Lộc, tỉnh Nghệ An – nơi từng oằn mình dưới mưa bom bão đạn – hôm nay đã khoác lên màu áo mới của sự hồi sinh và đổi thay. Những con đường rộng mở, những mái nhà bình yên mọc lên trên vùng đất năm xưa đầy hố bom, dấu tích chiến tranh dần phai mờ theo năm tháng. Nhưng khi nhìn vào ánh mắt mẹ Nguyễn Thị Duân, chúng tôi hiểu rằng có những nỗi đau vẫn còn âm ỉ, không thể nào nguôi ngoai trong trái tim người mẹ
Cuộc đời mẹ là một bản trường ca về lòng yêu nước, về niềm tin son sắt với cách mạng và sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Trong câu chuyện chậm rãi mẹ kể, có những tháng ngày gian khó đến quặn lòng, có những đêm dài thấp thỏm chờ tin con nơi chiến trường, có cả những giọt nước mắt lặng lẽ chảy khi nhắc về những người thân mãi mãi không trở về.
Mẹ Nguyễn Thị Duân sinh năm 1923, quê ở xã Nghi Mỹ, huyện Nghi Lộc, (nay thuộc xã Phúc Thọ, tỉnh Nghệ An). Mẹ sinh ra trong một gia đình thuần nông nghèo khó, cuộc sống quanh năm gắn với ruộng đồng nhưng vẫn thiếu thốn đủ bề. Từ khi còn nhỏ, mẹ đã phải đi ở cho nhà giàu để có cái ăn và nuôi các em khôn lớn. Những tháng ngày cơ cực ấy đã sớm hun đúc trong mẹ đức tính chịu thương chịu khó, và sự cần mẫn của người phụ nữ.
Nhắc về quãng đời đã qua, mẹ Nguyễn Thị Duân xúc động chia sẻ: “Khi lấy ông nhà tôi, mọi việc trong gia đình đều có bên nội đỡ đần. Bên ngoại neo người, bố mẹ tôi mất sớm, nhưng bố mẹ chồng và chồng đều rất thương, rất hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của tôi”.
Mẹ và chồng sinh được 7 người con, gồm 5 trai, 2 gái. Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt, các con của mẹ lớn lên trong gian khó nhưng giàu lòng yêu nước và sớm ý thức trách nhiệm với quê hương.
Năm 1967, anh Nguyễn Huy Vẹn người con đầu lên đường nhập ngũ. Nhắc về người con trai ấy, ánh mắt mẹ chùng xuống, giọng nghẹn lại: “Vẹn nó tuy không cao ráo nhưng rất ngoan và sống tình cảm. Nó đi biền biệt suốt mấy năm trời. Đến tháng 10 năm 1971 mới được về phép 20 ngày để cưới vợ. Đó cũng là những ngày cuối cùng nó được quây quần, chung vui với gia đình…”.
Ngày 4 tháng 7 năm 1972, anh Nguyễn Huy Vẹn hy sinh ở chiến trường Quảng Trị khi tuổi đời còn rất trẻ. Anh ra đi khi chưa kịp có với người vợ trẻ một đứa con, để lại phía sau cuộc hôn nhân dang dở đành khép lại.
Ngày nhận tin con hy sinh, bố anh suy sụp. Trong nỗi đau tưởng chừng không thể gượng dậy ấy, mẹ Duân lại trở thành chỗ dựa cho chồng và các con.
Năm 1980, mẹ lại tiễn người con trai thứ sáu là anh Nguyễn Huy Đình lên đường nhập ngũ tại Đại đội 21, Trung đoàn 10, Sư đoàn 339, Quân khu 9, làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia. Sau nỗi đau mất con chưa kịp nguôi ngoai, mẹ thêm một lần nén nước mắt để động viên con ra trận.
Nhắc đến anh Nguyễn Huy Đình, mẹ lặng đi rất lâu, đôi mắt đỏ hoe như vẫn còn nguyên nỗi đau của hơn bốn mươi năm trước. Mẹ kể, theo lời đồng đội trở về, năm 1982 anh Đình chuẩn bị được về phép sau những tháng ngày chiến đấu. Biết sắp được gặp lại gia đình, anh đã dành dụm mua nhiều thứ mang về cho người thân, trong đó có cả một tấm vải anh định đem về cho mẹ may áo.
Thế nhưng, niềm mong ngóng đoàn tụ ấy mãi mãi không thành hiện thực. Ngày 25 tháng 12 năm 1982, anh Nguyễn Huy Đình đã anh dũng hy sinh. Những món quà còn chưa kịp trao tận tay mẹ, tấm vải chưa kịp may thành áo, tất cả trở thành kỷ vật còn lại được đồng đội gửi lại cho gia đình.
Hai lần nhận giấy báo tử của con, là hai lần trái tim mẹ như thắt lại. Nhưng giữa những mất mát tưởng chừng không thể vượt qua ấy, mẹ Nguyễn Thị Duân vẫn lặng lẽ gồng mình chịu đựng, làm chỗ dựa tinh thần cho cả gia đình.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ ác liệt, ngôi nhà nhỏ của mẹ Nguyễn Thị Duân được Ủy ban xã Nghi Mỹ mượn làm nơi làm việc và liên lạc của địa phương. Ngôi nhà ấy cũng trở thành điểm dừng chân quen thuộc của nhiều lượt bộ đội hành quân qua địa bàn.
Để bảo đảm an toàn cho bộ đội và cán bộ xã mỗi khi máy bay địch ném bom, chồng mẹ đã đào nhiều hầm chữ A ngay quanh khu vực nhà ở. Mẹ nhớ lại: “Năm 1972, địch ném bom dữ dội lắm, nhà tôi cũng bị ảnh hưởng, nhưng nhờ chuẩn bị kỹ nên không thiệt hại nhiều”. Những căn hầm ấy đã nhiều lần trở thành nơi trú ẩn an toàn cho cán bộ, bộ đội và người dân trong những trận bom ác liệt.
Dẫu cuộc sống còn nghèo khó, bữa cơm gia đình nhiều khi còn thiếu thốn, nhưng mẹ vẫn luôn gom góp thức ăn để dành cho bộ đội. Không chỉ vậy, mẹ còn cùng chồng chặt tre, dựng lán cho các chiến sĩ có nơi nghỉ chân qua đêm. Những việc làm bình dị ấy đã góp phần tiếp thêm sức mạnh cho bộ đội nơi hậu phương gian khó, thể hiện tấm lòng son sắt của người dân quê đối với cách mạng và kháng chiến.
Ghi nhận những năm tháng phục vụ chiến đấu, mẹ được tặng Huy chương kháng chiến Hạng Ba. Ngày 8/10/2014, mẹ được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng.
Đất nước đã hòa bình, nhưng những câu chuyện về gia đình mẹ Nguyễn Thị Duân thì vẫn còn nguyên giá trị và lay động lòng người. Đó không chỉ là câu chuyện về những mất mát, hy sinh của một gia đình trong chiến tranh, mà còn là biểu tượng cho lòng yêu nước, đức hy sinh và sự kiên cường của những người mẹ Việt Nam anh hùng.
Hôm nay, khi được sống trong hòa bình, những miền quê đổi mới, những đứa trẻ lớn lên trong tiếng cười thay vì tiếng bom rơi đạn nổ, chúng ta càng thấm thía rằng hòa bình chưa bao giờ là điều tự nhiên có được. Đó là thành quả được đánh đổi bằng máu, nước mắt, tuổi xuân và cả cuộc đời của biết bao người mẹ, người lính và những gia đình như gia đình mẹ Nguyễn Thị Duân.

Address

189 Lê Duẩn
Vinh

Opening Hours

Tuesday 07:00 - 17:00
Wednesday 07:00 - 17:00
Thursday 07:00 - 17:00
Friday 07:00 - 17:00
Saturday 07:00 - 17:00
Sunday 07:00 - 17:00

Telephone

+84982161072

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bảo tàng Quân khu 4 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Bảo tàng Quân khu 4:

Share

Category