05/08/2026
/Mục giới thiệu tác phẩm nổi bật/
Tác phẩm: Làng Vũ Đại ngày ấy
Họa sĩ: Trương Đình Hào
Sơn sầu, 80x60cm, 2014
Sinh năm 1917, nhà văn Nam Cao chứng kiến những phận người bị bóp nghẹt bởi đói nghèo và bất công. Trải nghiệm ấy đã định hình con đường của ông với con chữ bằng lời khẳng định: “Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng thống khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than”. Những trang văn như Chí Phèo, Lão Hạc hay Sống mòn là minh chứng rõ nét cho tinh thần ấy.
Họa sĩ Trương Đình Hào sinh năm 1937. Dù khác thế hệ với Nam Cao, Hào mang cùng mối ưu tư về những nghịch lý của đời sống. Hơn nửa phần đời nếm trải những đắng cay đã bồi đắp ở Hào một cảm quan sâu sắc về sự chua xót và trớ trêu của phận người trong thời cuộc mình. Từ đó, ông thường mượn hình ảnh dân gian, con vật, tích truyện hay các nhân vật văn học để chuyển tải những suy tư ấy. Làng Vũ Đại ngày ấy là một trong những tác phẩm tiêu biểu.
Bước ra từ trang văn Nam Cao, Chí Phèo và Thị Nở trong tranh Hào không còn là hai nhân vật được nhận diện bằng những đặc điểm tả thực quen thuộc. Họ được giản lược thành những khối cơ thể đồ sộ, thô kệch, co rúm, run rẩy, méo mó. Những đường viền đậm nét vừa làm nổi bật hình khối, vừa như ranh giới, giam hãm, tách biệt hai thân thể ấy với mọi liên kết bên ngoài.
Bố cục khép kín dồn toàn bộ trọng lượng thị giác vào cụm nhân vật ở trung tâm , trong khi khoảng trống mênh mang, rỗng vắng bao quanh đã xóa sạch mọi dấu vết của làng Vũ Đại, đặt nhân vật vào trạng thái cô quạnh, lạc lõng, và trơ trọi đến cùng cực.
Bảng màu xanh lạnh trải rộng, những lớp lam, lục và trắng xám chồng phủ lên nhau như màn sương dày, khiến bối cảnh thêm phần nhợt nhạt và u ám. Trong bầu khí quyển ấy, dường như tất thảy thanh âm đều bị triệt tiêu, mọi tiếng thổn thức bị bóp nghẹt, mọi chuyển động đều trở nên trì níu. Chỉ còn lại sự im lặng đặc quánh của những thân phận bị chính đồng loại mình chối bỏ.
Với tạo hình này, Chí Phèo dường như chẳng còn mảy may chút khao khát đính chính với đời, gạt bỏ hết thèm muốn rửa sạch thanh danh, kéo mình ra khỏi lối hành xử man trá điên cuồng, để bấu víu vào hơi ấm nhân tính cuối cùng còn sót lại.
Ấy là tình người giữa hai mảnh đời vốn đã quen với sự khinh miệt tứ bề. Ấy là nỗi hổ thẹn rát bỏng, là niềm xót xa bén ngót, là lời bi thiết cuối cùng của một kiếp người bị xua đuổi:"Tao muốn làm người lương thiện!"
Sau cùng, có phần nào của nỗi khát khao được làm người ấy là phi lý?