Lịch sử Hùng Việt

Lịch sử Hùng Việt Dòng Hùng Việt
Trang chuyên khảo về lịch sử và văn mình Hùng Việt Dẫn luận
Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Hà là trời, Lạc là đất.

Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi các sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các sự tích của các dan

h nhân địa phương…
Truyền thuyết họ Hồng Bàng của người Việt kể rằng Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm người con trai, là tổ của Bách Việt. Cha Lạc Long dẫn 50 người con xuống khai phá vùng biển Đông. Mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên rừng, về đất Phong Châu, lập con cả làm vua, gọi là Hùng Vương. Người Việt ngày nay là con cháu của trăm người con trai đó, tức là một phần của cả dòng họ, đồng bào Bách Việt xưa, cùng chung một nguồn cội họ Hùng.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm 15 bộ…”. Cương vực 15 bộ mênh mông của nước Văn Lang thời Hùng Vương, với Tây giáp Tứ Xuyên (Ba Thục), Bắc tới Hồ Nam (hồ Động Đình?), làm các sử gia nghi ngờ rằng đó là lãnh thổ của cả dòng Bách Việt chứ không chỉ của “nước Việt” ngày nay. Lãnh thổ Bách Việt đã trải khắp vùng Hoa Nam, rộng lớn không thể ngờ. Truyền thuyết từ thời cha sinh mẹ đẻ không sai. Chính sử Việt chép cũng không sai. Bởi vì đó là những thông tin, những ghi chép lịch sử của cả cộng đồng người Bách Việt còn lưu lại chứ không phải chỉ của nước Đại Việt vào thời Lê sau này. Nếu nhìn nhận các truyền thuyết lịch sử Việt tách rời khỏi không gian và thời gian mà nó hình thành sẽ dẫn đến những lệch lạc vô cùng lớn, làm cho những câu truyện truyền thuyết trở nên không thể hiểu nổi. Với “tầm nhìn thời đại” của các chuyên gia sử học ngày nay thì những chuyện “trâu ma rắn thần” của thời cổ sử bị biến thành không “chích quái” thì cũng là “u linh”, mờ ảo. Thế nhưng, quá khứ xa xôi của người Việt lại nằm chính ở những dòng huyền sử lắng đọng đó. Chối bỏ huyền sử tức là quay mặt lại với quá khứ, với tổ tiên nòi giống. Người Việt là một phần của đại tộc Bách Việt là điều thật rõ, rõ ngay từ cái tên gọi. Vì thế lịch sử Bách Việt cũng là lịch sử của người Việt. Sách Hán thư viết: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình.” Bách Việt là một cộng đồng các dân tộc cùng nguồn gốc sinh sống ở phía Nam sông Dương Tử cho tới bán đảo Đông Dương từ thời trước Công nguyên. Về nhân chủng học thì Bách Việt là những cư dân thuộc loại hình Nam Mongoloid (Nam Á), trong đó bao gồm những nhóm dân tộc Tày Thái, Việt Mường, Môn – Khmer và cả Miêu Dao, phân bố ở Hoa Nam và Đông Nam Á ngày nay. Trung Quốc thời nay là một tập hợp các vùng lãnh thổ nơi mà trong quá khứ đã được sinh sống bởi những tộc người khác nhau. Con sông Dương Tử chia đại lục Trung Quốc thành 2 phần gần bằng nhau. Một nửa lãnh thổ Trung Quốc là đất người Bách Việt vào thời trước Công nguyên nên lịch sử Trung Hoa không thể không có những khoảng thời gian là lịch sử Bách Việt. Hơn thế nữa, một nửa phương Nam mới là nơi đã làm nên nền văn hóa Trung Hoa cổ đại rực rỡ. Những công trình xác nhận vai trò của văn hóa Bách Việt đối với nền văn minh Trung Hoa cổ xuất hiện ngày càng nhiều. Bắt đầu từ những bước lội ngược dòng của giáo sư Kim Định vào những năm 1970 chỉ ra những đóng góp to lớn của văn hóa Việt trong văn hóa Trung Hoa cổ. Hay gần đây hơn như công bố của giáo sư người Nga Dega Deopik, Viện các nước Á – Phi thuộc trường Đại học Tổng hợp quốc gia Matxcơva, cho rằng chủ nhân của nền văn minh Trung Hoa là người Môn – Khmer, tức là người Bách Việt. Cho tới nay, chính nghiên cứu của những nhà khoa học Trung Quốc tại vùng Lĩnh Nam cũng đang khẳng định điều này. Xem lại lịch sử Trung Hoa thời trung đại. Thế kỷ thứ 13 khi vó ngựa Mông Cổ tung hoành khắp đại lục Trung Hoa, nước Đại Lý, rồi Nam Tống của người Hoa lần lượt bị quân Nguyên thôn tính. Chỉ có nhà Trần trên đất Đại Việt – Giao Chỉ là kiên cường chống quân xâm lược. 3 lần đại thắng quân Nguyên của vua tôi nhà Trần không chỉ là chiến thắng của người Việt trước quân giặc phương Bắc mà còn là chiến thắng của cộng đồng Bách Việt trước sự bành trướng của ngoại tộc Thát Mông. Nhà Trần vốn xuất xứ từ vùng đất Mân Việt ở Phúc Kiến – Chiết Giang, là đất Trung Hoa, cũng là đất Bách Việt xưa. Xét vậy thì giữa nhà Trần và nhà Nguyên rõ ràng nhà Trần mới là Trung Hoa đích thực. Nhà Nguyên là triều đại của người Mông Cổ, không liên quan gì tới Trung Hoa cổ đại. Các vua Trần rồi vua Lê sau đó trong không ít thư tịch, văn bia để lại đã gọi quốc gia của mình là cõi Trung Hạ, Trung Quốc, thậm chí Hoa Hạ (xin xem các trích dẫn trong phần Quan niệm Hoa Di trong sách Ngàn năm áo mũ). Gần hơn nữa, có Nguyễn Huệ, tên thật là Hồ Thơm, người họ Hồ từ tổ tiên dòng Đế Thuấn nước Ngu của Trung Hoa cổ đại. Trong cuộc đụng đầu lịch sử giữa Càn Long nhà Thanh và vua Quang Trung ở thành Thăng Long thì rõ ràng triều đại của Quang Trung mới là người Trung Hoa chính gốc. Nhà Thanh là người Mãn Kim, không hề có dây mơ rễ má gì với Trung Hoa cả. Sang đến triều Nguyễn, vua Minh Mạng lên ngôi, đoàng hoàng, công khai cho đúc Cửu đỉnh, là 9 chiếc đỉnh lớn tượng trưng cho vương quyền của Trung Hoa, đặt ở kinh thành Huế. Chiếu chỉ đúc đỉnh ghi rõ: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu…”. Những chiếc đỉnh được đúc theo gương “các minh vương thời Tam đại” (Hạ, Thương, Chu) này là minh chứng rõ ràng, triều Nguyễn mới là “thiên tử” chính truyền của Trung Hoa thời kỳ này. Truyền thuyết lịch sử Việt được chép trong Việt Điện u linh, Lĩnh Nam chích quái là những thu nhặt chuyện kể trong dân gian từ thời Trần. Những câu đối, hoành phi trong các đền miếu ngày nay còn giữ lại được phần lớn là từ thời Nguyễn. Có vẻ niên đại của những minh văn này không đủ xa, đủ lâu so với những thư tịch chính sử… được mang từ bên Tàu về. Nhưng giá trị của những tư liệu dân gian này là ở chỗ nó không bị chỉnh lý bởi quan niệm sử chính thống hay bị bóp nặn theo ý đồ của ai đó. Những thần phả, thần tích địa phương ở nước ta được chép với quan điểm Trung Hoa – Bách Việt rõ ràng, bởi vì vào thời kỳ đó chỉ có Việt mới là Hoa thực thụ.
“Trung Hoa” trong quá khứ là từ chung chỉ “thiên hạ” của các tộc người vùng Đông và Đông Nam Á. Trung Hoa xưa và Trung Quốc nay không phải là một. Trong số các dân tộc của Trung Quốc ngày nay thậm chí còn không có dân tộc “Hoa”, chỉ có Hán tộc mà thôi. Hoa không hề là Hán như vẫn người Tàu vẫn chú thích một cách vô căn cứ vì người Hoa là người Bách Việt, còn Hán là người Bắc Mongoloid, cùng dòng giống với người Liêu, người Kim, người Thát (Mông Cổ). Nhận định lịch sử Trung Hoa cổ đại là lịch sử Bách Việt mà người Việt ở nước Nam ngày nay là một bộ phận độc lập còn tồn tại cho phép giải mã được phần lớn các truyền thuyết lịch sử Việt. Đây không phải là “lấy sử Tàu làm ta”, bởi vì “sử Tàu” hay “sử ta” ngày nay chỉ là những cách chép sử với góc nhìn mang hạn chế của vùng lãnh thổ hiện tại vào thời điểm hiện tại. Nước Nam của thời đầu Công nguyên có lãnh thổ hoàn toàn không giống với nước Đại Việt thời Lê hay với nước Việt Nam thế kỷ 21 này. Những sự kiện, những nhân vật lịch sử nước Nam thời cổ và trung đại có tầm vóc, phạm vi vượt ra ngoài khuôn khổ lãnh thổ quốc gia ngày nay bởi đó là lịch sử ghi chép theo quan điểm dân tộc Bách Việt trên địa bàn của Trung Hoa rộng lớn. Lĩnh Nam chích quái là truyền thuyết của vùng Lĩnh Nam, tức là của cả vùng đất Bách Việt. Giải mã, đối chiếu truyền thuyết và lịch sử của nước Nam không thể chỉ hạn chế ở ranh giới Việt – Trung mới được định lại vào sau thời “Trung Hoa dân Quốc” của Tôn Trung Sơn (năm 1911). Từ đầu Công nguyên cột đồng phân giới giữa Trưng Vương và Mã Viện hoàn toàn có thể nằm ở tận Bắc Quảng Tây. Bảy quận nước Nam của Giao Châu thời Sĩ Nhiếp chẳng chừa vùng Lưỡng Quảng. Lưu Cung lập nước Đại Việt năm 917 không phải là trên vùng đất Nam Việt nhà Triệu xưa? Đó đều là lịch sử Việt cả. Thiên Nam ngữ lục, trường ca thơ sử bằng chữ Nôm cuối thế kỷ 17 là một kho tàng sử liệu cực kỳ quý giá đối với nghiên cứu lịch sử Việt. Tác phẩm có niên đại cùng thời Ngô Sĩ Liên chỉnh lý Đại Việt sử ký toàn thư. Bộ ngữ lục này được sáng tác bằng thơ, bằng chữ Nôm, nhưng không có nghĩa là “tùy tác”. Đây là một tác phẩm được soạn để dâng lên chúa Trịnh, là một cuốn chính sử hoàn toàn nghiêm túc như trong câu mở đầu tác phẩm đã nói:

Trải xem sự kỷ nước Nam
Kính vâng tay mới chép làm nôm na. Truyền thuyết, thơ sử lưu truyền ngày nay bị cho là có tính “thảng thốt” về lịch sử, bởi vì những gì được chép lại không giống với dòng sử bác học đang lưu hành. Không giống không có nghĩa là không đáng tin, đáng nghĩ. Những chỗ mà dòng sử dân gian vênh lệch so với sử hàn lâm chính là những chỗ lịch sử nước Nam cần phải xem xét lại, phải diễn giải lại cho đúng với không gian thời gian của lịch sử. Bên cạnh phạm vi lãnh thổ và thời gian, để hiểu đúng truyền thuyết còn cần lùi cách nhìn nhận lại vào đúng không gian ngôn ngữ văn hóa của thời kỳ mà truyền thuyết được hình thành. Ví dụ từ “cửu trùng” hiểu như ngày nay là “9 tầng” thì sẽ dẫn đến những điều vô lý, chẳng đâu vào đâu. Xưa lên ngôi vua gọi là lên “ngôi cửu trùng”. Đền Thượng thờ vua Hùng ở Phú Thọ gọi là Cửu trùng thiên điện, không phải nghĩa là điện thờ ở 9 tầng trời mà là điện thờ Vua, thờ ông Trời. Thành Cổ Loa không phải có 9 vòng thành, mà là tòa thành từng được gọi là “Cửu trùng thành”, nghĩa là thành nơi có Vua. Cửu trùng hay trùng cửu – trường cửu là từ mượn âm, dùng để xưng tụng, tung hô với nghĩa như từ “vạn tuế”. Đời vua Hùng Vương 18 không phải là đời vua Hùng cuối cùng, mà ngược lại, 18 là trùng cửu (9×2), là con số chỉ sự trường tồn của thời đại Hùng Vương. Những cái bẫy của ngôn ngữ do sự khác biệt xưa – nay đã làm lạc hướng các nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Việt, dẫn đến “sai một ly đi một dặm”. Do chữ Nho là thứ văn tự bản chất tượng hình nên để ký âm, nhất là âm của ngôn ngữ khác, các nho sĩ xưa phải dùng phép phiên thiết. Phiên thiết một âm là dùng 2 “ký tự” (2 chữ), một tự ký phụ âm, một tự ký vần, ghép lại để ghi âm. Một âm Nôm khi chép vào sử sách do vậy biến thành 2 chữ Nho, lâu ngày người ta quên đi rằng đây là các “ký tự” để ghi âm chứ không phải ghi nghĩa. Mê Linh là 2 ký tự ghi âm Minh – Minh đô của vua Hùng, chẳng phải loài chim M’linh, M’lang nào cả. Tên làng Vân Già thiết Và, chứ không phải đám mây có tuổi mà “già”…
Truyền thuyết không phải là lịch sử, nhưng nếu truyền thuyết được quy chiếu vào đúng hệ tọa độ không gian – thời gian – ngôn ngữ – văn hóa sẽ trở thành lịch sử thật sự. Một trong những tọa độ căn bản của văn hóa phương Đông xưa là Dịch học, là Hà thư Lạc đồ, là Âm Dương Ngũ Hành. Hà thư là những cặp số sắp xếp theo phương vị để chỉ 4 phương trời và một phương trung tâm. Do đó Ngũ Lĩnh là 1 ngọn núi tên là Ngũ, tức là ngọn núi ở trung tâm. Kinh Dương Vương đi tuần ở Ngũ Lĩnh, không phải là nơi có 5 ngọn núi ở bên Tàu. Bát Hải không phải là có 8 cửa biển mà là biển nằm ở phương Tám, tức là phương Đông. Vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ trong đạo Mẫu do vậy không hề xuất xứ từ đầm nước ở Hồ Nam mà là vị vua của biển Đông, là cha Lạc Long đã dẫn 50 người con xuống biển. Khi các con số chỉ phương hướng của Hà thư lại phối chồng lên với các tính chất của Ngũ hành hay các quẻ của Bát quái thì sự thể còn đi xa hơn nữa. Từ Lạc – Nác – Nước, cũng là Lục, là số 6, con số chỉ phương Bắc ngày nay. Hùng Vương thứ sáu là Lạc Vương, nghĩa là vua vùng đất phía Bắc, đồng nghĩa với Kinh Dương Vương (Canh Giêng Vương). Tên nước Xích Quỷ hay Xích Quẻ là quẻ chỉ hướng Nam, hướng Xích đạo. Hiểu nước Xích Quỷ của Lạc Long Quân thành “quỷ mặc áo đỏ” thì chẳng ra ngọn ngành gì cả…
Những ví dụ về ngôn ngữ như vậy trong cổ sử Hoa Việt vô cùng nhiều. Không vận dụng Dịch lý thì không thể hiểu được những nhân danh, địa danh trong quá khứ, tức là không thể hiểu được những “mật mã” mà tiền nhân người Việt đã nhắn gửi trong những câu truyền thuyết. Ngôn ngữ, văn hóa không chỉ đọng lại trong thư tịch, trong truyền thuyết, trong hoành phi câu đối điện thờ. Những hiện vật khảo cổ của từng thời kỳ lịch sử, có minh văn hay không có minh văn, đều tự kể chuyện mình, kể những câu chuyện hoàn toàn không như cách “giải đoán” của các sử gia ngày nay. Tấm bia Xá lợi tháp minh phát hiện ở Bắc Ninh ghi rõ năm 601 Giao Châu là đất “thuộc bản đồ đế quốc Tùy”, do thứ sử Lưu Phương cai quản. Tức là Lý Phật Tử – Triệu Việt Vương không hề đóng đô ở Long Biên vào những năm này. Đồng tiền cổ với chữ Đinh ở mặt sau thời Ngũ đại thập quốc lại có tên được đúc trăm đồng như một là “Đại Hưng bình bảo”, xứng tên nước Đại Hưng rõ ràng. Chuông cổ Nhật Tảo ở Hà Nội đúc năm Càn Hòa thứ 6 cho biết năm 948 Giao Châu đang là một huyện dưới thời vua Lưu Thịnh ở Quảng Đông. Trận đại thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng do đó không thể xảy ra vào năm 938 được…
Ngày càng có nhiều những phương pháp, những dẫn chứng thuộc những lĩnh vực khoa học khác nhau soi thấy chính sử nước Nam đã được chép… đúng mà không đúng. Lịch sử bị biến thành huyền thoại vì đã không được đặt đúng, hiểu đúng trong tọa độ vốn dĩ của các sự kiện từng xảy ra. Giải mã những huyền thoại, truyền thuyết Việt không phủ nhận, mà trái lại, giúp làm rõ thêm lịch sử. Lịch sử nước Nam là lịch sử của cả đại tộc Bách Việt trên phạm vi thiên hạ Trung Hoa rộng lớn thời cổ trung đại. Lịch sử Hoa Việt thật sự càng lộ rõ thì tộc danh Bách Việt càng rực rỡ, rực rỡ như đã từng tỏa chiếu trong quá khứ. Những thông điệp từ quá khứ được nhắn gửi rõ ràng ngay trên mặt trống đồng, linh khí của người Việt cổ. Ở chính giữa mặt trống đồng là hình ảnh của mặt trời, nguồn sống muôn loài. Ngọn lửa ánh sáng ở trung tâm tức là Trung Hỏa – Trung Hạ hay Trung Hoa. Trung Hoa là cõi thiên hạ của người Bách Việt. Vòng ngoài cùng của mặt trống đồng Ngọc Lũ khắc 18 cặp chim, 1 non và 1 trưởng thành đang tung bay. 18 là trùng cửu, là trường cửu. Ý nghĩa của vòng ngoài mặt trống đồng là đời sau con cháu nối tiếp ông cha đời trước mà trường tồn. Thông điệp của trống đồng gửi từ ngàn xưa về là Bách Việt trùng cửu, một sự khẳng định: Bách Việt trường tồn với thời gian.

Vài hàng về nước Nam ..ta .Trước hết xin hãy tham khảo bảng chia Ngũ hành và ứng dụng .(Ảnh kèm theo)Không...
12/01/2026

Vài hàng về nước Nam ..ta .

Trước hết xin hãy tham khảo bảng chia Ngũ hành và ứng dụng .
(Ảnh kèm theo)

Không phải chỉ từ năm 1839 Vua Minh Mạng nhà Nguyễn đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Nam thì lịch sử người Việt mới có …. nước Nam ta ….mà nước Nam theo nghĩa là quốc gia ở phương Nam đã là nước của người Việt từ thời thượng cổ .
Quốc tổ đế Minh vua cha Ngọc hoàng thượng đế mất , đế Nghi hay Nghiêu tiếp ngôi định đô miền Bạch hạc ngả ba sông mở ra thời lịch sử mới gọi là Nam bang hay Nam triều , vua Nghi hay Đường Nghiêu được tôn là Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế cũng có tư liệu gọi là Nam bang triệu tổ . ở đây triệu chỉ là kí âm chữ Nho của từ chúa hay chủ trong tiếng Việt
Xin lưu ý lưu ý tránh cái bẫy của đám ‘cạo sử gia’ Tàu cố ý gây nhiễu Việt sử thì phải hiểu cho đúng … phương Nam ở đây là phương Nam cổ xưa theo Dịch học với các Dịch tượng là phía Nam là phía của Nước – hành Thủy -màu Đen – Huyền thiên cũng gọi là đất Đường hay Thường trong nền văn minh họ Hùng như trong tên gọi đất Đào – Đường quê hương ban đầu của người họ Hùng v.v.
Nam bang trong cổ sử Việt tên Nôm là Lạc tức Lác – Nác – Nước , tên chữ là Xích qủy ( xích qủy thiết Thủy) .
Nước Xích Qủy có lãnh thổ hoàn toàn trùng đúng với nước Văn Lang tức sự thực Xích qủy chính là tiền thân của nước Văn lang , cũng gọi là đất Đường hay Việt Thường như trong câu ca dao nói về ngày giỗ bà Âu Cơ :
Tháng năm ngày tết Đoan dương
Là ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang .
Qua thời thượng cồ sử …Tam hoàng , Ngũ đế , tam vương họ Hùng bước sang thời Tần Hán . Tần Hán chính xác là Tần – Hưng người Việt chỉ có Hưng đế không có Hán đế , Hán đế Lưu Huyền và Lưu Tú là tổ của người Liêu hay Hán – Tàu …
Hưng đế – Suy đế sử Tàu cạo sửa gọi là thời Hán – Sở tranh hùng bịp lừa Thiên hạ .
Hưng đế là Nam Việt đế Lí Bôn trong sử Việt . Lí Bôn cũng chính là Lí Nam đế sử Tàu biến ra ông Lưu Bang tổ của Hán quốc , Từ Lí Nam đế ta xác ̣định thêm được Lí Phật tử là Hậu Lí Nam đế 2 vì vua tiên khởi của nước Nam hay Nam quốc . Trong sử Thiên hạ Hậu Lí Nam đế là Lưu Bị , Nam quốc của ông gọi là Tây Thục song hành với Đông Ngô thời mà sử Tàu bịp lừa gọi là Tam quốc .
Hậu Tam quốc nước ta nửa phía Đông trước thuộc Đông Ngô bị Đào Hoàng đem biếu không cho rợ Tấn , phía Tây trước về với Tây Thục sau khi Tây Thục sụp đổ bỗng mất dấu Không có tư liệi lịch sử nào ̣để lại chép về thời này trừ vài dòng tin ngắn ngủi trong sách Lĩnh Nam trích quái cho biết Rợ không nước nào …. đá́nh được phải bỏ về …
Sau khi họ Vũ văn khôi phục chủ quyền Thiên hạ từ tay rợ Bắc Ngụy gọi là nhà Bắc Châu , nối tiếp là thời rực sáng của lịch sử và lịch sử văn minh họ Hùng ở 2 triều Đại : Tùy tực Sủy – Thủy và Đường tức Việt Thường của họ Lý . Cả Thủy – nước và Thường đều là Dích tượng chỉ phương Nam màu Đen .
Giai đoạn đau buồn Đường mạt thế đã sinh ra nước Nam hay Nam chuá- chiếu nước của chúa phương Nam với vua khởi lập là Mai Hắc đế . Trong danh xưng Hắc là màu đen của phương Nam và vua Trung hưng là Phùng Hưng , Phùng là họ còn Hưng là địa danh chỉ phía Tăy Bắc Việt Nam ngày nay .
Sau Đại Đường Thiên hạ vào thời suy vong gọi là thời kì 5 đời phía Bắc và 10 nước phương Nam (phương hướng ngày nay ).
Thời Thiên hạ mạt vận dòng giống Hùng lần lượt mất hết chỉ còn trụ được ở nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu sau đổi là Đại Hưng , đất đai có 4 châu Phong – Hoan – Giao – Quảng cộng với lộ như Hoàn của Phùng Hải em Phùng Hưng Bì la Các . chính từ thời điểm này cho đến năm 1839 vua Minh Mạng nhà Nguyễn lấy quốc hiệu là Đại Nam thì từ Nam bị che lấp ẩn dấu đi thời gian gần ngàn năm .

Bản đồ Đaị Nam thời vua Minh Mạng (Ảnh kèm theo)

Lời dạy của thánh nhân từ 3000 năm trướcMơ hồ và thực tế hàm chứa trong Kinh DỊCH .Quẻ Bỉ = Thiên/ Địa .(Xe...
12/01/2026

Lời dạy của thánh nhân từ 3000 năm trước

Mơ hồ và thực tế hàm chứa trong Kinh DỊCH .

Quẻ Bỉ = Thiên/ Địa .
(Xem ảnh kèm theo)

Thiên trên địa, trời trên đất dưới là một trật tự chuẩn xác sao lại bỉ.
Dịch học không dùng hệ trên dưới mà dùng bên trong và bên ngoài. Dưới là bên trong, trên là bên ngoài, bên trong là tinh thần, đạo đức, lý tưởng còn bên ngoài là đời sống vật chất kinh tế.
Bên trong mà đầy ắp lợi với lộc lúc nào cũng vậy kể cả lúc mơ cũng chỉ thấy một chữ Tiền… còn bên ngoài thì biến lý tưởng thành thực… bất cần có tài sản hay không cũng thực hiện ngay việc công hữu hóa tất cả là của chung, xã hội không còn người quản lý… chỉ có đầy tớ của nhân dân… thực lý tưởng vô cùng.
Bên trong là cái gì vô hình vô hạn, thì lại đem vào đầy, đầy dẫy những quy tắc cứng rắn buộc phải chấp nhận vô điều kiện, … tất cả đều là những thiết định vô bằng hay qui chiếu về những chuẩn mốc do chính mình dựng nên hoàn toàn chủ quan.
không bàn tiếp .

a) Lời Quẻ:

Bỉ chi phỉ nhân, bất lợi, quân tử trinh, đại vãng tiểu lại.

Ngược ngạo hay bế tắc là thời của lũ “ngợm”, hoàn toàn bất lợi, bậc trưởng nhân đừng ngã lòng, bên ngoài xã hội được tổ chức theo khuôn mẫu lý tưởng …tưởng tượng ra còn trong lòng thì đầy ắp sự tham lam của cải. (Đại vãng, tiểu lai). Lợi lộc.
Đây là thời đặc trưng của dối trá… đến tột đỉnh lừa cả chính mình… sống khiêm tốn “bình dân” đến độ vua chúa cũng phải thèm…như gia đình ông KIM bên Triều Tiên hết đời lãnh tụ bố đến lãnh tụ con …rồi còn đang chuẩn bị cho lãnh tụ …cháu… thật là 3 đời hy sinh cho dân tộc ….đến độ Bản thân mình không có chút tài sản, tất cả của mình “xài” là của nhân dân…? Đúng là thời đảo ngược nhiễu nhương…
Trong cái vũng lầy đó vẫn còn những viên ngọc trọn vẹn một tấm lòng son, Dịch học dặn dò… kiên trinh đừng ngã lòng vì chắc chắn sẽ có ngày thái lai…

b) Lời tượng: Thiên địa bất giao, quân tử dĩ kiệm đức tỵ nạn, bất khả vinh dĩ lộc.

Lời này ….Thánh nhân viết riêng cho Việt kiều toàn cầu

Trong ngoài lộn phèo đấy là tượng xấu xa (bỉ tiếng Việt là xấu xa, đáng khinh) bậc trưởng nhân phải che giấu đức sáng nơi mình đi hòng tránh nạn sát thân, không thể mưu còn lợi lộc và sự vinh quang trong tình thế đó.
Lũ đầu trâu mặt ngựa kết bè kết cánh với nhau, khống chế mọi hoạt động của xã hội, người quân tử không về phe với chúng thế nào cũng bị chúng trừ khử để thông đường trộm cắp vơ vét, trưởng nhân phải cố giữ mạng sống mình, chờ ngày lật ngược tình thế diệt sạch lũ tham quan ô lại đó .

c) Lời Hào

c.1 Hào Sơ

Bạt mao nhự, dĩ kỳ vị, trinh cát hanh

Mỗi khi chuyển thời hay đổi đời đều phải quét sạch tàn dư chế độ cũ Bỉ chuyển sang Thái… quét sạch Thái chuyển sang Bỉ cũng quét sạch.
Người có lương tri và bản lĩnh phải biết giữ gìn lập trường, kiên trinh với con đường đã chọn rồi ra khi sóng yên biển lặng phúc trach, hanh thông chắc chắn sẽ đến.

c.2 Hào nhị

Bao thừa, tiểu nhân cát, đại nhân bỉ, hanh

Được cấp trên dung dưỡng, bọn đầu trâu mặt ngựa mặc sức tung hoành, trả thù và vơ vét, riêng những người có lương tri thì thực sự bế tắc vì một bên là lý tưởng cao đẹp và một thực tế quá sức phũ phàng phơi bày trước mắt, bế tắc diễn ra ngay trong nội tâm người quân tử, ray rứt khổ sở …làm sao có thể chấp nhận dễ dàng việc mình thờ lầm chúa để bây giờ xảy ra tình cảnh này.

c.3 Hào tam: Bao tu

Gánh lấy sự nhục nhã

Bất tài vô đạo chắc chắn chỉ đắc thế một thời rồi sẽ phải gánh lấy sự nhục nhã ê chề, ra đường không dám ngẩng mặt, bia miệng còn truyền đến cả những đời sau, đấy là quy luật tất yếu không sao tránh khỏi.

c.4 Hào Tứ

Hữu mệnh vô cữu trù ly chỉ

Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi… những người tâm huyết hợp nhau ra tay đi cho muôn dân được hưởng ơn phước bởi trời.
Người Quân tử hãy sẵn sàng đón “thiên mệnh” để cứu đời, cứu người và hưởng phúc trạch từ trên cao ban xuống cho.

c.5 Hào ngũ

Hưu bỉ, đại nhân cát, kỳ vong hệ vu bao tang.

Khuynh bỉ đã thành công bọn dã man độc ác đã bị loại bỏ, mở ra vận hội hết sức tốt đẹp cho những chí sỹ có lòng yêu nước thương dân thực sự. Không được tự mãn ngủ quên trên chiến thắng, nguy cơ thoái hóa biến chất lúc nào cũng rình rập cả, bên ngoài lẫn chính bên trong tâm trí của mình, phải luôn luôn đề phòng luôn luôn cảnh giác không một chút lơ là.

c.6 Hào thượng

Khuynh bỉ, tiên bỉ, hận hỷ.

Đánh đổ được chế độ thối nát vô nhân rồi không phải mọi sự êm xuôi ngay, do hậu quả của nó để lại rất lớn lao, xã hội rã rời, lòng người giao động, quốc khố trống rỗng, hạ tầng cơ sở quốc gia nát bét do sự bòn rút của bọn vua quan thời “đen tối”, nhiều khi nợ nần phải gánh ngập đầu ngập cổ (nợ nước ngoài trước đây bọn mặt người dạ thú đã vay để … chia nhau) thành ra Dịch học báo trước khuynh bỉ… tiên bỉ.

Lời của thánh nhân sâu thăm thẳm nhưng lại rất thực , thực đến độ không ngờ …tưởng như kinh Dịch mới ra đời khoảng trăm năm nay .

Kết thúc quẻ BỈ : Đổi mới rồi …Hết thảy người Việt :

Đừng nản lòng, cùng nhau bắt tay vào việc phục hưng, huy động mọi nguồn lực trong cũng như ngoài nước (bất hà di) thế nào rồi sự phồn vinh, hạnh phúc cũng đến.

12/01/2026

2 giống Hán - 2 Hán quốc

Dù trước đã có bài viết về đề tài này nhưng nay nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề , xin viết lại và bổ sung .
Tư liệu lịch sử Việt chép rất rõ ràng không úp mở việc nhiều triều đại Việt xưng mình là Trung quốc và riêng nhà Nguyễn còn rõ ràng hơn nhận mình là người Hán .
Việc này rà sao ? với người Việt phải chăng đây là việc kinh thiên động địa rúng động tâm hồn , lộn tùng phèo hết thảy .?
Xin bình tâm xem xét :
…Sử liệu Hán văn từ thế kỷ 12 về sau đều cho thấy, với quan điểm văn hiến- lễ giáo ở đâu thì nơi ấy là trung tâm của chính trị, các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc.
Với ý nghĩa “vương quốc trung tâm” thì việc vua quan Việt ̣ nhận mình là Trung quốc cũng là lẽ thường , không phải riêng Việt và nhiều nước khác như Nhật và Hàn cũng thế ,
Riêng sự nhận đồng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào triều Nguyễn, khi các hoàng đế quân chủ của triều đại này như Gia Long- Minh Mệnh- Thiệu Trị- Tự Đức và các sử gia Nho thần, coi rằng mình là hậu duệ chính thống của Hán nhân,
Các văn bản triều đình nhà Nguyễn (như Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục,…) đều tự xưng mình là “Hán nhân”, còn những nhóm người đến từ ‘ngũ Hồ quốc’ được gọi bằng tên của các triều đình đương nhiệm, như Thanh nhân (người nhà Thanh), Minh nhân (người nhà Minh).
…Triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Thiên hạ .
triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán tộc (cả về mặt huyết thống lẫn văn hóa- chính trị). Đây chính là lý do khiến các Nho sĩ triều Nguyễn (từ vua đến quan) đều tự nhận rằng mình là Hán nhân.
Sử thuyết Hùng Việt có thể là liều thuốc hóa giải tâm tư bị dồn ép cực độ cho rất nhiều người .
Trong Lịch sử Thiên hạ có đến 2 tộc người lập ra 2 triều đại gọi lả Hán bị đám cạo sử dồn ép thành một trong ngụy sử Trung hoa mập mờ đánh lận con Đen lừa mọi người .
Sau khi đánh đổ nhà Tần nổ ra ̀ cuộc chiên tranh giữa Lưu Bang và Hạng Vú , sử sách gọi là Hán Sở tranh hùng .
Sử thuyết Hùng Việt cho : Hán – Sở chỉ là biến âm hay kí âm sai lệch của cặp từ lưỡng lập Dịch học :
Hên – Sui , Hơn – Thua hay Hưng – Suy
Ông Lưu Bang thắng nên sử gọi tức Hên – Hơn – Hưng vương sử Tàu biến ra Hán
Khái lược Phả hệ dòng Hán – Hưng .
Tam hoàng
Ngũ đế
Tam Đại
Tần
Hán- Hưng
Tân – Vương Mãng
Mất nước bị Hán Du Mục thống trị Sử thường gọi là thời Bắc thuộc .
………………..
Phục hưng thời Bắc Châu sau cùng truyền đến thời Thiên hạ 3 nước
Đại Việt – Đại Lí và Đại Tống sau thời Hoa Nam thập quốc .
Mông cổ và Mãn Thanh chiếm Đại Lí và Đại Tống lập ra Trung quốc ngày nay
Duy nhất Đại Việt vẫn độc lập tự chủ nối tiếp quốc thống Hữu Hùng quốc kiến lập từ thời đế Hoàng ( đế màu Vàng) .
Hạng Vũ thua nên thành Sở vương tức Sui – Thua – Suy vương
Sử Tàu viết Hán vương Lưu Bang lập ra nhà Tây Hán đây chính là điểm gút của sự tráo đổi , Đông Hán nối vào Tây Hán liền 1 mạch hợp lí qúa đi chứ người đời khó mà nhận ra .
Thực ra Đông Hán là triều đại của 1 dòng giống Hán khác .
Dân du mục phía Bắc Thiên hạ gọi chúa của họ là Khan , tư liệu Hán văn viết thành Hãn , nước của hãn là hãn quốc , lính của Hãn gọi là Hãn quân sau danh từ chung hãn biến ra danh từ riêng Hán gọi triều hay nước đầu tiên và vài nước về sau của dòng tộc Hán du mục .
Khái lược phả hệ Hán – hãn du mục
Thiền Vu Mao Dun
Lục lâm thảo khấu
Lưu Huyền Hán Canh Thủy
Lưu Tú Hán Quang Vũ
Tào Ngụy
Tấn
Ngũ Hồ thập lục quốc
Bắc Ngụy
……………………
Sau cùng là 2 triều Đại Hãn quốc Nguyên của người Mông cổ và Mãn Thanh của bộ tộc Nữ Chân rợ Đông Hồ .
Kết :
·Các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc. là hoàn toàn Chính đáng .
·Triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Hán.
Triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán – Hưng tộc đồng thời là kẻ thù truyền kiếp của dòng Hán – Hãn du mục ..là .hoàn toàn ĐÚNG .

Đặc biệt vua chúa Việt nhiều lần nhắc đến 2 triều : đại Hưng –Hán và Đại Đường coi đấy như là những triều gương mẫu tiêu biểu của lịch sử Việt Nam .

Xin nêu 2 sự việc tiêu biểu :

Văn khắc trên vách đá vùng Tây Bắc Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn do vua Lê Thái Tổ ngự chế cũng có đoạn với đại ý : “Bọn di địch là mối họa ở vùng biên cương, từ xưa đã có. Bọn Hung Nô thời Hán, bọn Đột Quyết thời Đường, bọn man mọi Mường Lễ ở phía Tây nước Việt ta cũng vậy,,,

Trong tác phẩm Việt âm thi tập, của Phan Phu Tiên có bài thơ “Đáp Bắc nhân cấn An Nam phong tục” được cho là của Hồ Quý Ly :

Muốn hỏi chuyện nước An Nam?
Phong tục nước An Nam thuần hậu.
Áo mũ thì theo chế độ nhà Đường,
Lễ nhạc thì như vua tôi nhà Hán.
Bình ngọc mở rót rượu mới,
Dao vàng mổ cá ngon nhỏ vảy,
Hàng năm, cứ đến tháng hai tháng ba,
Đào, mận đều mang sắc xuân.

Áo mão và lễ nhạc là hồn văn hóa 1 dân tộc , viết như thế coi như người xưa đã xác định lịch sử nước ta .,,, là hậu thân của Thiên hạ thời Hưng – Hán và đại Đường ,

Thiên hạ cận kim lịch sử .Sử thuyết Hùng Việt cho Sơn – Hà của Hán tộc tức Trung quốc hiện nay là vùng Hà Bắc – Sơn ...
12/01/2026

Thiên hạ cận kim lịch sử .

Sử thuyết Hùng Việt cho Sơn – Hà của Hán tộc tức Trung quốc hiện nay là vùng Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây sau chiếm thêm Hà Nam làm trung tâm khi Lu Túi dựng nên Hán quốc .
Luận điểm này không phải là vu vơ , cảm tính mà là rõ ràng thực sự .
Theo tư liệu lịch sử hiện nay :
Từ hơn 1.400 năm trước, Khiết Đan là dân tộc miền Bắc Trung Quốc đã xuất hiện trong Ngụy thư. Họ binh hùng tướng mạnh, kiêu dũng thiện chiến. Một thủ lĩnh bộ lạc tên là Gia Luật A Bao Cơ thống nhất các bộ lạc Khiết Đan. Năm 916, ông dựng nên nước Khiết Đan, tới năm 947 đổi quốc hiệu là Đại Liêu.
Trong thời kỳ cường thịnh nhất, vương triều Đại Liêu từng chiếm Cương vực rộng mênh mông: Bắc tới tận hồ Baikal, ngoài Đại Hưng An; Đông sát Sakhalin; Tây vượt dãy Altai; Nam tới Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Có thể nói họ là bá vương một cõi.
Marco Polo lần đầu tiên viết trong cuốn du ký của mình giới thiệu phương Đông với thế giới phương Tây, đã lấy Khiết Đan đặt tên cho Trung Quốc. Tới tận ngày nay, các nước nói tiếng Slave vẫn gọi Trung Quốc là Khiết Đan (Kitan hay Kitai).
Dân tộc Khiết Đan tạo nên một vương quốc quân sự hùng mạnh và một nền văn hóa rực rỡ. Chùa Liêu và tháp Liêu thể hiện trình độ văn minh của họ. Tới nay, các chùa và tháp cổ được bảo tồn tại phía bờ Bắc sông Hoàng Hà. Các công trình đều nguy nga hùng vĩ, qua ngàn năm vẫn trơ gan trước băng tuyết gió mưa.
Tháp Thích Ca tại huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây là kiến trúc kiểu tháp kết cấu gỗ xưa nhất, cao nhất trên toàn thế giới, từng trải qua mấy trận động đất mà vẫn không bị hư hỏng. Một dân tộc sáng tạo nên nền văn minh rực rỡ như vậy thì nhất định phải có một cơ sở kinh tế và một sức mạnh kỹ thuật hùng hậu.
Theo ghi chép thì Đại Liêu đối đầu với Bắc Tống hơn 160 năm. Cuối cùng, nước tiêu diệt Đại Liêu lại là tộc người Nữ Chân từng phụ thuộc tộc người Khiết Đan.
Thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả dẫn đại quân công thành cướp đất Đại Liêu. Khi đất chiếm đã đủ rộng, dân đinh đã tương đối nhiều, A Cốt Đả liền dựng nên nhà Kim năm 1115. Mười năm sau, nhà Kim thay thế vương triều Khiết Đan.
Những điều phải bàn :
Rợ Hung nô hay Hun ở bắc Thiên hạ gọi thủ lãnh là Khan chữ Nho biến thành ̀ hãn , dựa vào gốc từ Khan – hãn giới khoa bảng Trung quốc đã chế biến thành cả đống món ăn cho Hán sử .
Khan qua phép phiên thiết biến thành Khiết đan , Khế đan , Khất đan .
Hãn nghĩa là thủ lãnh biến ra quốc danh ́ Hán tức Hán quốc rồi cả Hán tộc , Hán quân .
Hán tộc̉ có Đại hãn vĩ đại :
Thành Cát Tư Hãn; tên latinh là Genghis khan, ta thấy ngay khan chữ Nho độc âm hoá thành ̀ra hãn , thành cát thiết thát – tư là tát ta tên bộ tộc .
tên khác ông ta là Genghis khan ̀ Thiết Mộc Chân; trong quái danh này thì Thiết là Thát chỉ tộc người , mộc chân thiết Man chỉ phương tối theo Dịch học ,Genghis khan thiết mộc chân chỉ nghĩa là Thát man .
Marco Polo và các nước Slavè hoàn toàn chính xác khi chỉ đích danh Khan -Khiết đan hay đại Liêu tồn tại từ 907 đến 1125 là Trung quốc của người Hán , không lầm lẫ̃n gì cả như người Tàu đang cố ý phao ra lừa cả nhân loại .
Bản thân tộc Liêu đã thể hiện rõ trong họ của các thủ lãnh Lưu Huyền và Lưu Tú , chính xác ra là Liêu người Liêu không phải họ Lưu.
Vùng đất Sơn Tây Hà Bắc phía Bắc Hoàng hà là đất của trước là nước Hán thời Hán Canh Thủy và Hán Quang vũ thờỉ nhà Ân là thuộc quốc Quang hay Quan nghĩa là phía Nam – Nom-nhìn xưa sau là lãnh thổ Đại Liêu hay Khiết Đan .
Cố nhập nhèm biến Trung quốc thành Trung hoa là trò gian lận …quạ đen giả phượng hoàng .
Sử Trung Hoa gọi hoàng tộc Liêu hay Khiết đan là họ Gia luật ,thực ra trên đời này làm gì có họ Gia luật , đám sử giả tối tăm nào biết : theo phép phiên thiết Hán văn thì Gia luật thiết giặc , vua Liêu hay Khiết đan chỉ là đám giặc Liêu tổ Gia luật A Bảo Cơ chỉ nghĩa là Giặc A Bảo Cơ thế thôi .
Nước Liêu bị diệt bởi người anh em Kim là nước do Kim tổ Hoàng Nhan A cốt Đả kiến lập .
Lại trò bịp nữa của đám phù thủy chữ nghĩa .
Không có họ nào là Hoàng Nhan , hoàng nhan thiết Hãn – Khan ,quái danh Hoàng nhan A Cốt Đã nghĩa thực là Hãn hay chúa rợ tên là A Cốt Đả thế thôi .
Liêu – Kim – Nguyên là rợ man ráo thì Trung hoa là đâu ?
Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ rõ lãnh thổ người họ Hùng qua nhiều thời kì là từ phía Nam Hoàng hà chạy tới Đông Nam Á́ ngày nay ; đồng thời với Liêu – Kim – Nguyên là lãnh thổ Tam Hùng quốc :
Đại Việt hay Đại Hưng và Đại Tống -Đại Lí.

Dùng phép phiên thiết ta nhìn ra lắm điều lí thú của RỢ sử ‘
Hiện nay mọi người đều tướng tổ rợ Hung nô là thiền vu tên là Mao Dun , Mao dun là kí âm Hán văn từ Rợ ngữ , thực ra chẳng có ai tên là Mao Dun hay Mạo Đốn , đúng ra thiền vu mao dun hay mạo đốn chỉ nghĩa là chúa rợ man dã ,thiền vu phép phản là thù viên hay thù vương , còn mao dun thiết mun – man chỉ đạm người còn hoang dại man dã .
ngoài ra ta có thể lôi ra hàng đống vua hay thủ lãnh Liêu Hán là rợ như
Đổng Trác tướng quân bạo ngược thời Đông Hán đích thị̣ là rợ hung nô vì tên của hắn đã tố cáo … đổng trác thiết đát- Thát ,còn nhiều lắm nào
Mộ Dung thiết mung – Mông
Thác Bạt thiết thát
họ Thạch thì khá rõ cái gốc Thát
Hết thảy cùng giống với Thành cát tư hãn chúa rợ Mông Nguyên .
Số phận đã hết sức cay nghiệt với dòng giống Hùng :
Đất đai của Đai Tống và Đại Lí hiện đã nằm dưới móng ngựa Khiết Đan , Đại Việt hay Đại Hưng còn đó nhưng thân phận và quá khứ đã bị xóa sạch , hàng ngày ngụp lặn trong hơi thở văn hóa văn minh của tổ tiên để lại mà lại bị Thiên hạ coi là ăn nhờ ở đậu , đến ngôn ngữ cũng chỉ là thứ ngôn ngữ hổ lốn vay mượn người Tàu đến 70-80% . đau khổ nhất là chính bản thân mình cũng cúi đầu nhận thế , sự phản bác nếu có cũng rất yếu ớt và rời rạc thiếu tính hệ thống và toàn diện …
Thật buồn vô cùng nhưng không sao hãy tin vào luật tuần hoàn tự nhiên …́ Bỉ cự̣c ắt Thái lai . không bao lâu nữa đâu .

4 trận thủy chiến quyết định lịch sử người họ Hùng .Theo sử̉ hiện hành thì trong suốt dòng sử mấy ngà...
12/11/2025

4 trận thủy chiến quyết định lịch sử người họ Hùng .

Theo sử̉ hiện hành thì trong suốt dòng sử mấy ngàn năm con cháu họ Hùng đã 3 lần chiến thắng lẫy lừng trên sông nước .

1 / Trận Xích- Bích quân Tào đại bại ;

Trận đánh diễn ra vào mùa đông năm Kiến An thứ 13 (tức năm 208) giữa liên quân Đông Ngô – Tây Thục với quân đội trên danh nghĩa là của triều đình nhà Hán Tư liệu Việt sử gọi là Nam Hán do Tào Tháo cầm đầu . Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của liên minh Ngô Quyền và Lí Phật Tử sử Thiên hạ gọi là pheTôn–Lưu trước đội quân đông đảo hơn của Tào Tháo (sau là vua nước Tào Ngụy) chính vì lẽ này mà trận đánh được sử gọi là Xích Bích chính xác là thất bát ý nói 10 phần quân Tào chết đến 7-8 . Cũng từ đó cặp số thất bát 7 – 8 mang thêm nghĩa là hao tổn mất mát ,Chiến thắng này đã góp phần củng cố vị trí cho hai nước người họ Hùng mà Ngô Quyền – Lí Phật tử (Tôn Quyền, Lưu Bị ) mới lập ở Trường Giang , thắng lợi đã ngăn cản Tào Tháo mở rộng phạm vi quyền lực rợ Hồ xuống phía Nam Thiên hạ , cũng bởi quãng sử gọi là Tam quốc này mà người Hồ còn được gọi là Tàu hay ba Tàu biến âm của Tào Ng̣ụy – Tào Tháo Sử Việt gọi là Hoằng Tháo .

2 / Vua Lê Đại Hành đại thắng quân Tống, năm 981

Trong tổng thể cuộc chiến chống quân Tống xâm lược , sau khi mất đất phía Đông là Quảng Đông
người Việt kiến lập triều Đinh ở phía tây trên phần đất Giao Chỉ và An Nam và 1 phần Quảng Tây ngày nay tiếp tục cuộc chiến .
Tháng 1/981, thủy quân của nhà Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ồ ạt tiến vào sông Bạch Đằng. Vua Lê Đại Hành hay Lí Thái Tông thân chinh làm tướng cầm quân, cho xây thành Bình Lỗ, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông dựa vào địa thế hiểm trở của sông Bạch Đằng, quân Tống lọt vào trận địa mai phục do quân Việt bày sẵn.
Quân Việt lúc này gọi là quân Đại Hưng (đến đời Lí Thánh Tông mới cải quốc hiệu và xưng là hoàng đế thứ 3 nước Đại Việt) t̀ừ các nhánh sông đổ về Bạch Đằng đánh quân Tống quyết liệt. Hầu Nhân Bảo bị giết chết, số ít quân địch tháo chạy ra biển.
Vua Lê đại Hành – Lí Thái Tông được sử ca tụng là vìi vua phá Tống bình Chiêm

3 / Trận thủy chiến nhấn chìm 6 vạn quân Mông – Nguyên

Theo sử sách chép lại, tháng 3/1288, biết được ý đồ rút quân bằng đường thuỷ qua sông Bạch Đằng của địch, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông. Quân ta đốn gỗ lim, táu… trên rừng kéo về bờ sông và đẽo nhọn rồi cắm xuống lòng sông dẫn ra biển làm thành những bãi chông lớn.
Các cánh quân thuỷ bộ bí mật mai phục sau dãy núi đá Tràng Kênh dọc bờ sông Bạch Đằng.
Sáng ngày 9/4/1288, khi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua bỏ chạy. Trúng kế, thuyền giặc di chuyển vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tiến vào bãi cọc.
Quân ta đợi cho thủy triều xuống mới quay thuyền lại và đánh thẳng vào đội hình địch. Thủy quân Đại Việt từ các hướng nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền chặn đầu địch ngang trên sông.

Thực sự người Việt không phải 3 lần mà có tới 4 chiến thắng trên sông nước .

4 / Chiến công bỏ sót : Đại Việt đánh bại quân Nam Sở thời ‘Thập quốc Hoa Nam’ .

Do xem nước Đại Việt Đại Hưng thời kinh đô ở Quảng châu không phải là ‘nước Ta’mà sử Việt đã bỏ sót 1 trận thủy chiến quan trọng .
Thực sự Lịch sử người họ Hùng có tới 2 Ngô vương .
Ngô vương I là Ngô Quyền sử Thiên hạ gọi là Tôn Quyền , mà tên tuổi đã gắn liền với trận Xích Bích đã viết .
Theo Sử thuyết họ Hùng thì nước ta còn có Ngô vương II là Lưu Nghiễm ;vua kiến lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu hay Ngô nay là Quảng châu .

Năm 928, thủy quân Sở (Thập quốc) (đời vua Mã Ân) tiến công Đại Việt đô ở Phiên Ngô , quân Sở bao vây Thành phố Triệu khánh nay ở Quảng Đông , Ngô vương – Lê Nghiễm lệnh cho Tả hữu nhai sứ Tô Chương (蘇章) đem 3.000 “nỏ thần” (cung thủ tài giỏi), 100 chiến hạm cứu Triệu Khánh .
Tô Chương giăng dây sắt chìm dưới sông, hai bên bờ căng dây, đắp đê dài để giấu quân. Đến khi giao chiến với thủy quân Sở, Tô Chương giả vờ rút lui, lừa quân Sở đuổi theo; sau đó hạm đội Sở lọt vào nơi phục kích, không thể tiến thoái, bị quân Việt bắn tên, quân Sở bại trận phải rút chạy về nước chấm dứt mộng xâm lược .

Ghi chú lịch sử …

Tư liệu lịch sử thời trung đại đã chỉ rõ :Nước Đại Việt – Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm An Nam tức Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu .

Sơ đồ nước Đại Việt từ thuở lập quốc .

Sơ đồ cái lưỡi bò 9 đoạn thiêng liêng của tổ tiên truyền lại mà cha con giống Hồ ta quyết giữ .
Việc khẳng định Lãnh thổ Đại Việt gồm Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu đã khiến cái gọi là… chủ quyền lịch sử từ thời xa xưa trên vùng biển 9 đoạn và mới thêm vào 1 đoạn nữa là 10 của các ông Tàu khiến cả hết thảy bàn dân Thiên hạ cười lăn cười bò ….
Có lẽ Việt sử sắp phải ghi thêm chiến công thứ 5 trên sông nước

Tượng Lâm vùng đất bí ẩn .Sách ‘Mộng Khê bút đàm’ viết :”…Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu thời Hán, Đường. Thời Ngũ đại loạ...
12/11/2025

Tượng Lâm vùng đất bí ẩn .

Sách ‘Mộng Khê bút đàm’ viết :”…Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu thời Hán, Đường. Thời Ngũ đại loạn lạc, Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng. Sau Văn Xương bị Đinh Liễn giết, lại có đất này. Năm thứ sáu niên hiệu Khai Bảo của quốc triều, Liễn mới theo về, trao chức Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ; năm thứ tám, phong Giao Chỉ Quận Vương…
Đoạn sách ngắn này chứa điều rất quan trong của Lịch sử Việt Nam .Thời Ngũ Đại” (Ngũ Đại Thập Quốc) là một thời kỳ hỗn loạn trong lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ năm 907 đến 960, sau sự sụp đổ của triều Đường. Thời kỳ này được đánh dấu bằng việc phía Bắc Trường giang Trung Quốc trong thời gian (907-960) năm triều đại liên tiếp nhau của rợ Hồ : Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Châu. cai trị, phía Nam Trường giang từ 907 đến 979 chia thành 10 nước cuả người Thiên hạ được gọi chung là Thập Quốc.

… loạn lạc thời Ngũ đại … “trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng ”…làm chủ lĩnh Nam thời này thì không thể ai khác là anh em Lê Ẩn – Lê Nghiễm ; sử Tàu gọi là Lưu Ẩn và Lưu Nghiễm…vấn đề là :sao ở đây lại là Ngô văn Xương ? , theo Phiên thiết Hán văn thì văn xương thiết vương , không có ai tên là Ngô văn Xương , Lê Ẩn xây Hưng vương phủ ở thành Phiên Ngu Quảng châu, nên anh em ông được gọi là Ngô vương theo nghĩa là vương thành Phiên ngu hay Phiên Ngô .

917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960),
Vương quốc này mở rộng kinh đô từ Hưng Vương Phủ , ngày nay là thành phố Quảng Châu.
Cùng năm này (911) Lưu Ẩn mất, em trai cùng cha khác mẹ là Lưu Nghiễm lên thay. Tới năm 917, Lưu Nghiễm tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt , nhưng chỉ qua năm sau (918) đổi tên thành Đại Hán . Vì cái cớ họ của ông là Lưu là họ của Lưu Bang nhà Tây Hán và ông ta coi mình là hậu duệ Hiếu Cao tổ Lưu Bang .
Như thế theo Mộng khê bút đàm thì Nước Đại Việt – Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm An Nam tức Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu .

Khởi từ An Nam sau chiếm Giao Quảng lập nên Đại Việt thì nước ấy không phải nước ‘TA’ thì là nước nào ?, không hiểu sử gia đời trước tư duy kiểu gì mà đẻ ra sự nhìn nhận quái lạ Nước đại Việt chiếm nước ta bắt Khúc thừa Mỹ đem về Quảng châu ???, các quan Lý khắc Chính và Lý Tiến bổ từ trung ương về cai quản địa phương biến thành 2 ông quan xâm lược sang cai trị …nước ta .

Sử thuyết Hùng Việt cả quyết việc nhà Đường đổi phủ đô đốc Giao châu thành phủ đô hộ An Nam là sai hoàn toàn , thông tin nhà Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải quân cũng sai nốt vì thời Đường đất nội thuộc và ngoại thuộc có ranh giới rõ rệt không thể hoán chuyển . , Giao chỉ là lãnh thổ nhà Đường từ khi mới lập triều còn An Nam là đất Nam Chiếu mới thu phục , dân Nam chiếu là dân mới quy phục triều Đường .

Trong sử Việt 2 từ Tượng -lâm rất đặc biệt …
Tượng lâm nếu bỏ chữ Lâm còn chữ Tượng tên 1 quận của nhà Tần . nay là lãnh thổ nước Lào triệu voi với thủ đô là vạn tượng 10 ngàn voi .
Tượng lâm nếu bỏ chữ Tượng thì còn chữ Lâm chỉ đất Lâm Ấp của Khu Liên .sau là đất Phạm Hùng tướng Mường.hiện nay sử đang lầm coi Lâm ấp là tiền thân của nước Chiêm thành .
Tượng lâm tam sao thất bản thành ra Đường Lâm mà người Việt vẫn gọi là ̣đất 2 vua Phùng Hưng và Ngô Quyền hay Ngô vương .
Tượng lâm nếu bỏ chữ Tượng thì còn chữ Lâm chỉ lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng sau phát triển mở rộng lên Vân Nam Quảng Tây và cả Tứ Xuyên là lãnh thổ Nam chiếu thịnh thời ,
Lâm ấp cũng là Lâm An , thự̣c ra lâm an là Nam an kí âm sai đi , Nam an lật kèo thành An Nam đô hộ phủ đất cũ mà mới , mới mà cũ của nhà Đường .
Nhà Trần gọi người An Nam là ngườ̉i ‘Trại’, nước ta bên cạnh Kinh trạng nguyên có Trại trạng nguyên .
Tóm lại những đất : Tượng , Tượng Lâm ,Đường lâm , Lâm ấp , Lâm an , An nam , và Nam chiếu xưa chỉ là 1 vùng đất với nhiều tên lịch sử và trừ đất Lào ra đấy chính là đất Hưng hoá còn gọi là xứ Đoài cộng với xứ Nghệ của Việt Nam hôm nay .
Việc không công nhận nước Đại Việt đô ở Quảng châu là thời kỳ đầu của ‘nước ta’
có hệ lụy lớn đến nỗi làm biến tính dòng sử Việt khiến cho triều Đại Việt đô ở thành Thăng long của 8 đời vua nhà Lý không có gốc .
Như đã viết trong 1 bài viết trước :
Sử thuyết Hùng Việt cho triều Lí quãng những năm 970 – 1225 vua Lí Thái tổ là
Đinh bộ Lí khắc Chính và Lí Thái Tông là Đinh Liễn – Lí Tiến , Thái Tông còn
gọi là Đại Hành hoàng đế , do 2 vua đầu nhà Lí đã ‘giả xưng’ họ Lê để danh chính ngôn thuận tiếp nối vương triều đại Việt kinh đô ở thành Phiên Ngô phía Đông do các vua họ Lê mà sử Tàu đã cạo sửa thành họ Lưu kiến lập nên Lí Thái tông Lí Tiến chính là vua Lê Đại Hành phá Tống bình Chiêm trong sử Việt .
Câu đối ở Đình Dương Lôi Tân Hồng – Bắc Ninh đã chỉ ra sự thể này :
李核 出五蘝肇嗣和刀天 應瑞
Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự ‘hòa đao’ thiên ứng thụy
蓮花開八葉結成木子地鐘靈
Liên hoa khai bát diệp, kết thành ‘mộc tử’ địa chung linh.
Tạm dịch:
Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành
Hoa Sen mở tám lá, kết thành họ Lý ở đất linh thiêng.
“Hòa đao” 和刀 là chiết tự của họ Lê黎
“Mộc tử” 木子là chiết tự của họ Lý 李
Đây chính là lịch sử nước Đại Việt Đại Hưng tóm lược:
Nước Đại Việt – Đại Hưng có 2 triều đại tiếp nối nhau : phía Đông với 5 vì vương họ Lê : Lê Ẩn Lê Nghiễm Lê Phần Lê Thịnh và Lê Sưởng , kinh đô ở thành Phiên Ngu – Quảng châu và phía Tây của 8 vua họ Lí (2 vua đầu phải giả xưng họ Lê) trước định đô ở Hoa Lư Ninh Bình sau dời về thành Thăng long tức Hà nội ngày nay . Lí công Uẩn không thể tiếp nối nhà Lê của Lê Hoàn vì triều đại này chính thức chỉ là 2 đời Lê Hoàn và Lê long Đĩnh làm gì có 5 đời…‘hòa đao’ thiên ứng thụy .
Trong bài phân tích ý nghĩa bài thơ sấm ngôn ‘sét đánh cây gạo’tiên báo việc lên ngôi của vua Lí Công Uẩn đã viết trước đây có 2 câu :
Câu 5 – 震宮見日
Chấn cung kiến nhật
Đông mặt trời mọc
Câu 6 -兑宮隠星
Đoài cung ẩn tinh
Tây sao náu mình chỉ ra triều Lí phía Tây trên đất Giao chỉ tiếp nối triều Lê phía Đông đô ở Phiên Ngô Quảng Đông , triều Lê và Lí theo sử Việt hiện nay hoàn toàn không khớp với thông tin này …cả 2 đều định đô trên đất Giao chỉ chẳng hề có ai Đông ai Tây như viết trong bài thơ thần..
Theo sử hiện nay nhà Lý thời này có tổng cộng 9 đời vua sao ở đây lại chỉ có 8
? , thưa theo suy đoán của người viết thì triều cuối cùng của Lý chiêu hoàng do đã nhường ngôi cho chồng người họ Trầnnên không thể coi đó là 1 triều đại nhà Lý mà phải kể là triều đầu của nhà Trần .
Tóm lại là sách sử Việt hiện nay đã mắc sai lầm nghiêm trọ̣ng ở thời kì dân tộc
phục Hưng vô cùng quan trọng mà nền độc lập tự chủ kéo dài đến tận hôm nay .

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Lịch sử Hùng Việt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share

Category