Cổ Học Tinh Hoa

Call Directions

Cổ Học Tinh Hoa - Nơi Chia Sẻ Những Bức Ảnh Quý Và Tư Liệu Lịch Sử Của Việt Nam Và Thế Giới Qua Các Thời Kỳ.

Cỗ kiệu đòn treo thời Lê ở đền An Cố, Thái Thụy, Thái Bình.* Ảnh chụp của bạn Đặng Công.
07/09/2026

Cỗ kiệu đòn treo thời Lê ở đền An Cố, Thái Thụy, Thái Bình.

* Ảnh chụp của bạn Đặng Công.

Chuyến thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.
02/09/2026

Chuyến thăm Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946.

Văn tế thập loại chúng sinh của Đại thi hào Nguyễn Du.Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,Toát hơi may lạnh buốt xương khô,Nã...
24/08/2026

Văn tế thập loại chúng sinh của Đại thi hào Nguyễn Du.

Tiết tháng Bảy mưa dầm sùi sụt,
Toát hơi may lạnh buốt xương khô,
Não người thay buổi chiều thu,
Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
Đường bạch dương bóng chiều man mác,
Ngọn đường lê lác đác sương sa,
Lòng nào là chẳng thiết tha,
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.
Trong trường dạ tối tăm trời đất,
Có khôn thiêng phảng phất u minh,
Thương thay thập loại chúng sinh,
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người.
Hương khói đã không nơi nương tựa,
Hồn mồ côi lần lữa đêm đen,
Còn chi ai quí ai hèn,
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu?
Tiết đầu thu lập đàn giải thoát
Nước tĩnh bình rưới hạt dương chi
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan, cứu khổ, hồn về tây phương.

Cũng có kẻ tính đường kiêu hãnh,
Chí những lăm cướp gánh non sông,
Nói chi những buổi tranh hùng
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.
Bỗng phút đâu mưa sa ngói lở
Khôn đem mình làm đứa sất phu,
Lớn sang giàu nặng oán thù,
Máu tươi lai láng, xương khô rã rời.
Đoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỷ không đầu than khóc đêm mưa
Cho hay thành bại là cơ
Mà cô hồn biết bao giờ cho tan!

Cũng có kẻ màn lan trướng huệ,
Những cậy mình cung quế Hằng Nga,
Một phen thay đổi sơn hà,
Mảnh thân chiếc lá biết là về đâu?
Trên lầu cao dưới cầu nước chảy
Phận đã đành trâm gãy bình rơi,
Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.
Đau đớn nhẽ không hương không khói,
Luống ngẩn ngơ dòng suối rừng sim.
Thương thay chân yếu tay mềm
Càng năm càng héo, một đêm một rầu.

Kìa những kẻ mũ cao áo rộng,
Ngọn bút son thác sống ở tay,
Kinh luân găm một túi đầy,
Đã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,
Trăm loài ma mồ nấm chung quanh,
Nghìn vàng khôn đổi được mình
Lầu ca, viện hát, tan tành còn đâu?
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước
Biết lấy ai bát nước nén nhang?
Cô hồn thất thểu dọc ngang,
Nặng oan khôn nhẽ tìm đường hoá sinh.

Kìa những kẻ bài binh bố trận
Đem mình vào cướp ấn nguyên nhung.
Gió mưa sấm sét đùng đùng,
Dãi thây trăm họ nên công một người.
Khi thất thế tên rơi đạn lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu rơi,
Bơ vơ góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ biết vùi nơi nao?
Trời thăm thẳm mưa gào gió thét,
Khí âm huyền mờ mịt trước sau,
Ngàn mây nội cỏ rầu rầu,
Nào đâu điếu tế, nào đâu chưng thường?

Cũng có kẻ tính đường trí phú,
Mình làm mình nhịn ngủ kém ăn,
Ruột rà không kẻ chí thân
Dẫu làm nên để dành phần cho ai?
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của phù du dẫu có như không,
Sống thời tiền chảy bạc ròng,
Thác không đem được một đồng nào đi.
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm
Hòm gỗ đa bó đóm đưa đêm
Ngẩn ngơ trong quãng đồng chiêm,
Nén hương giọt nước, biết tìm vào đâu?

Cũng có kẻ rắp cầu chữ quý
Dấn mình vào thành thị lân la,
Mấy thu lìa cửa lìa nhà,
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân?
Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêng,
Vội vàng liệm sấp chôn nghiêng,
Anh em thiên hạ láng giềng người dưng.
Bóng phần tử xa chừng hương khúc
Bãi tha ma kẻ dọc người ngang,
Cô hồn nhờ gửi tha phương,
Gió trăng hiu hắt, lửa hương lạnh lùng.

Cũng có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm mây chạy xế gió đông
Gặp cơn giông tố giữa dòng,
Đem thân vùi rấp vào lòng kình nghê.

Cũng có kẻ đi về buôn bán,
Đòn gánh tre chín dạn hai vai,
Gặp cơn mưa nắng giữa trời,
Hồn đường phách sá lạc loài nơi nao?

Cũng có kẻ mắc vào khoá lính,
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan,
Nước khe cơm ống gian nan,
Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời.
Buổi chiến trận mạng người như rác,
Phận đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập loè ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương
Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp,
Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa,
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Đâu chồng con tá biết là cậy ai?
Sống đã chịu một đời phiền não
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa,
Đau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi,
Thương thay cũng một kiếp người,
Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan!

Cũng có kẻ mắc oan tù rạc
Gửi mình vào chiếu rách một manh.
Nắm xương chôn rấp góc thành,
Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi?

Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng.

Kìa những kẻ chìm sông lạc suối,
Cũng có người sẩy cối sa cây,
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lũ kẻ lây lửa thành.
Người thì mắc sơn tinh thuỷ quái
Người thì sa nanh sói ngà voi,
Có người hay đẻ không nuôi,
Có người sa sẩy, có người khốn thương.
Gặp phải lúc đi đường lỡ bước
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau
Mỗi người một nghiệp khác nhau
Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ?

Hoặc là ẩn ngang bờ dọc bụi,
Hoặc là nương ngọn suối chân mây,
Hoặc là bụi cỏ bóng cây,
Hoặc nơi quán nọ cầu này bơ vơ.
Hoặc là nương thần từ, Phật tự
Hoặc là nơi đầu chợ cuối sông
Hoặc là trong quãng đồng không,
Hoặc nơi gò đống, hoặc vùng lau tre.

Sống đã chịu nhiều bề thảm thiết,
Gan héo khô dạ rét căm căm,
Dãi dầu trong mấy mươi năm,
Thở than dưới đất, ăn nằm trên sương.
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Lặn mặt trời lẩn thẩn tìm ra,
Lôi thôi bồng trẻ dắt già,
Có khôn thiêng nhẽ lại mà nghe kinh.
Nhờ phép Phật siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u,
Rắp hoà tứ hải quần chu,
Não phiền rũ sạch, oán thù rửa không.
Nhờ đức Phật thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương,
Nhơn nhơn Tiêu Diện đại vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường chúng sinh.
Nhờ phép Phật uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê khua tỉnh chiêm bao,
Mười loài là những loài nào?
Gái trai già trẻ đều vào nghe kinh.
Kiếp phù sinh như hình bào ảnh,
Có chữ rằng: “Vạn cảnh giai không”
Ai ơi lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Đàn chẩn tế vâng lời Phật giáo,
Của có chi bát cháo nén nhang,
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đường thăng thiên.
Ai đến đây dưới trên ngồi lại,
Của làm duyên chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít thành nhiều,
Trên nhờ Tôn Giả chia đều chúng sình.
Phật hữu tình từ bi phổ độ
Chớ ngại rằng có có không không.
Nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng
Độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài.

* Bài này còn gọi là Văn chiêu hồn hay Văn tế chiêu hồn, hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên Đông Dương tuần báo năm 1939 thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Tuy nhiên, GS. Hoàng Xuân Hãn lại cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết tác phẩm này trước cả Truyện Kiều, tức khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812).

Trước Phủ Toàn quyền có tượng đài “Vì nước Pháp” (À la France) dựng năm 1907. Tượng thể hiện hình ảnh một người phụ nữ b...
19/08/2026

Trước Phủ Toàn quyền có tượng đài “Vì nước Pháp” (À la France) dựng năm 1907. Tượng thể hiện hình ảnh một người phụ nữ biểu trưng cho nước Pháp ngồi trên một cái ngai trang trí các họa tiết Angkor và rồng phượng An Nam, xung quanh có binh lính và phụ nữ bản xứ vây quanh.

Do bị dư luận phê phán về tính thẩm mỹ quá thấp, đến năm 1925 chính quyền thuộc địa đã phải dẹp bỏ tượng đài này.

Chuyện khó quên ngày đầu tiên đón vua Bảo Đại du học trở về.Năm 1932, vua Bảo Đại hồi loan (về nước), chính thức ngồi ng...
17/08/2026

Chuyện khó quên ngày đầu tiên đón vua Bảo Đại du học trở về.

Năm 1932, vua Bảo Đại hồi loan (về nước), chính thức ngồi ngai vàng “chăm dân”. Cuộc trở về của vị tân quân trẻ măng thu hút sự quan tâm của chính giới Pháp – Việt và dư luận.

Trong bài viết “Chương trình nghênh tiếp đức Bảo Đại hồi loan”, đăng trên Thanh Nghệ Tịnh tân văn, số 111, ra ngày 2/9/1932 đã có chương trình khái lược về cuộc trở về của vua với những cuộc tiếp rước, lễ nghi vương giả trong thời gian từ ngày 8/9 đến ngày 12/9/1932. Riêng ngày đầu tiên của vua trên đất Việt (ngày 8/9), Thanh Nghệ Tịnh tân văn, số 113, ra ngày 16/9/1932 tường thuật chi tiết qua bài “Cuộc hồi loan của đức Bảo Đại”.

Theo đó, trước khi tàu chở vua Bảo Đại về nước, ở Huế dân tình “bàn tán đến cuộc hồi loan này lắm. Đức thiếu quân trở về nước đã khởi lên trên trường tranh luận của quốc dân nhiều vấn đề quan trọng và thiết yếu. Vấn đề chú ý nhất xem ra là vấn đề cải cách đó”. Trong đó, người thì mong hiến pháp đổi mới, người thì mong giữ sự trực trị. Nhưng đa phần, đều hoan nghênh sự trở về của tân quân được đào tạo ở Tây phương tân tiến

Xứ Tourane đón vua.

Tàu chở vua phải đến khoảng 9 giờ sáng mới cập cảng, nhưng không khí ở Tourane (Đà Nẵng) đã nhộn nhịp từ sáng sớm. Năm giờ sáng, quanh tòa Đốc lý, đám đông đã tụ tập và đến bảy giờ, người đã chen nhau chật ních như nêm cối kéo hai dãy dài chừng 2, 3 trăm thước. Số khác không còn chỗ để chen chân, đành đứng cả dưới nước chờ đợi: “Lúc đó thực là người đủ các nước Pháp, Nam, Trung Hoa. Trông như một cái bể người, sóng vỗ ầm ầm vậy”.

Đó là về phần công chúng. Còn về phần chính quyền, sự chuẩn bị chu đáo kỹ càng lắm. Hai đội lính Pháp và khố xanh đứng đợi sẵn cùng kèn trống trước tòa Đốc lý. Xung quanh, lính cảnh sát đi lại giữ trật tự. Các quan chức Pháp, Nam tề tựu từ sớm. Các quan Pháp thì mặc lễ phục áo trắng quần đen, các quan Nam thì mang áo gấm, đeo bài ngà và các thứ huy chương. Ở cầu tàu nơi tàu vua cập bến, chiếu hoa được trải một hàng dài, hai bên đều có lính mặc áo gấm, thắt dây lưng đỏ, cầm gương đứng.

Trong khi đám đông ngóng chờ, bảy giờ rưỡi, Khâm sứ Châtel cùng Đốc lý Ferrand của Tourane và mấy quan chức khác xuống sà lúp (xuồng máy) ra đón tàu vua. Sau hai giờ chờ đợi của đám đông trên bờ, dưới nước, thì tiếng súng đại bác vang rền, báo hiệu tàu chở vua đã về đến nơi. Chiếc tàu Alerte với cột khói đen ngòm tiến vào cảng, từ từ lại đậu trước cầu tàu. Vua Bảo Đại với dáng người nho nhỏ nhưng mạnh mẽ, mặc hoàng bào, đeo dải đỏ, chít khăn xanh vàng, quần trắng, giày đen, đứng trên tàu trông xuống. Đám đông trông thấy long nhan thì vỗ tay hoan nghênh vang dội. Tiếng nhạc phường bát âm được cử lên.

Dứt nhạc, Khâm sứ Châtel cùng vua từ trên tàu bước xuống. Theo sau là các quan tùy tùng cùng Toàn quyền danh dự Charles và phu nhân, quan Hộ bộ thượng thư Thái Văn Toản, các quan Cơ mật viện và đức ông Hoài Ân. Vua Bảo Đại trước sự đón chào nồng nhiệt của quốc dân, tỏ ra xúc động. Khi vua đến trước sân tòa Đốc lý, hai đội lính Pháp và Nam bồng súng chào, phường nhạc cử bài quốc ca. Ngự giá của vua lên phòng khách lớn trên gác tòa Đốc lý. Đốc lý Ferrand đọc mấy câu chúc mừng, rồi giới thiệu quan khách.

Sau khi nhận lời chúc mừng của đốc lý, vua Bảo Đại đáp từ bằng tiếng Pháp, nói lên cảm xúc của mình khi về nước: “Quả nhân rất lấy làm cảm động khi bước chân về đến nước nhà, là nơi mà trong bao nhiêu năm du học vắng, quả nhân thường nghĩ nhớ đến luôn. Quả nhân xa nước từ khi còn niên thiếu, bấy giờ thơ ngây; nay quả nhân về, đã biết đến những quyền vụ cao quý nặng nề, trịnh trọng. Quả nhân định chí quyết làm cho trọn hết phận sự của quả nhân. Nghị lực ấy, quả nhân dùng để làm việc ích cho hết mọi người, và quả nhân lại riêng tưởng thương đến những kẻ thấp kém, đến dân Việt Nam khôn ngoan cần mẫn này, rất chăm việc canh nông, quả nhân lúc nào cũng sẵn lòng che chở giúp đáp cho”. Đồng thời bày tỏ mong muốn sự hợp tác giữa hai nước Pháp – Việt cùng lời cảm ơn các quan Phụ chính và đội ngũ quan viên đã lo việc nước lúc vua vắng mặt. Mười hai giờ, vua dùng cơm tại tòa Đốc lý.

Đất đế đô vua về.

Sau bữa ngự thiện, vua cùng đoàn tùy tùng chuẩn bị trở về Huế trên hỏa xa (tàu lửa). Đây là chiếc tàu sang trọng được trang bị tươm tất với bảy toa. Hai toa đầu chở đồ. Toa sa lông dùng riêng cho vua thì sáng chói, cực kỳ đẹp. Cả tàu từ đầu chí cuối cắm cờ Pháp lẫn cờ Việt Nam.

Một giờ 45 phút, tàu ở ga Tourane Marché chạy đến đậu trước cửa tòa Đốc lý. Vua cùng Khâm sứ Châtel và các quan hộ giá lên tàu. Công chúng đứng xem chung quanh vẫn đông như kiến. Hai giờ đúng, tàu rời thành phố Tourane. Dọc đường, nhất là ở các ga, các quan phủ huyện địa phương đều cửa giả và đặt hương án để nghênh tiếp thánh giá. Công chúng kéo nhau đi xem rất đông.

Trong khi tàu đang chạy ra Huế, thì ở đất đế đô mới 8 giờ sáng công chúng đã kéo đến, đông nghìn nghịt quanh ga và hai bên các con đường quanh đấy, nhất là đường Jules Ferry là chỗ thánh giá sẽ đi qua, người đứng xem chật ních, không còn chỗ nào bỏ không. Lính cảnh sát hôm ấy một phen vất vả để giữ trật tự. Ở ga Huế, trước sân ga hai đội lính thuộc địa Pháp và khố xanh sắp hàng đợi sẵn. Ngoài chỗ tàu đậu, có một đội lính kèn. Nhà ga Huế hôm ấy kết lá chăng cờ. Phòng hạng ba được đổi ra làm phòng khách trang hoàng như nơi tiên cảnh.

Khoảng bốn giờ chiều, các quan chức Pháp, Nam mặc lễ phục đã tụ họp đông đủ đón vua. Đến năm giờ chiều, tàu chở vua đến ga, 21 phát súng đại bác vang lên đón chào. Vua Bảo Đại cùng Khâm sứ Châtel bước xuống. Đội nhạc binh cử bài quốc ca. Vua vào phòng khách. Công sứ Thừa Thiên đọc bài chúc từ, vua có mấy lời đáp lại rồi đi ra sân cùng Khâm sứ lên ô tô. Trước và sau có lính kỵ mã cầm cờ đi hộ giá. Theo sau là xe của các quan chức Pháp, Nam và các quan chức tùy tùng, cứ hai người ngồi một xe theo thứ tự đã định trước.

Khi đoàn ngự giá qua Đài tưởng niệm tướng sĩ trận vong, đoàn đại biểu các cựu chiến binh đứng đón chào và các nam nữ học sinh phất cờ. Dọc đường từ phố nhà Ga qua cầu Trường Tiền, phố Đông Ba, cửa Thượng Tứ vào trong thành, công chúng đều giữ thái độ cung kính. Tới Đại Cung Môn, Khâm sứ Châtel xin cáo lui về. Vua Bảo Đại tỏ ý giữ lại và cùng vua về điện. “Ấy là xong một ngày. Cái ngày nay chưa biết sẽ ảnh hưởng đến dân tộc Việt Nam thế nào! Đó là câu hỏi chung của người đi xem khi ra về vậy”.

Theo TRI THỨC TRỰC TUYẾN

Ảnh chụp Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hữu Bài những năm sau 1907.
13/08/2026

Ảnh chụp Thượng thư bộ Lại Nguyễn Hữu Bài những năm sau 1907.

Sau khi lễ tế Giao đã hoàn tất, nhà vua Bảo Đại và đoàn tùy tùng trở về lại hoàng cung. Khác với lúc xuất cung, đoàn ngự...
11/08/2026

Sau khi lễ tế Giao đã hoàn tất, nhà vua Bảo Đại và đoàn tùy tùng trở về lại hoàng cung. Khác với lúc xuất cung, đoàn ngự đạo đi trong im lặng để giữ sự trang nghiêm, thành kính. Khi họ hồi cung, nhạc và chiêng trống được tấu lên trên suốt quãng đường để báo hiệu với dân chúng rằng cuộc tế lễ đã hoàn thành tốt đẹp, ước nguyện về một thiên hạ thái bình đã được các đấng siêu nhiên ghi nhận.

* Hình ảnh trong lễ tế Nam Giao năm 1933.

Trước lễ tế ba ngày, tượng Đồng nhân (tượng người bằng đồng cầm biển đề ba chữ “tĩnh trai giới”) sẽ được rước vào điện C...
10/08/2026

Trước lễ tế ba ngày, tượng Đồng nhân (tượng người bằng đồng cầm biển đề ba chữ “tĩnh trai giới”) sẽ được rước vào điện Cần Chánh. Từ thời điểm này, nhà vua phải tiến hành trai giới, diệt dục để dọn mình “sạch sẽ” trước khi đứng vào vị trí chủ tế.

* Hình ảnh trong lễ tế đàn Nam Giao năm 1933.

Vua cùng các đại thần triều Nguyễn đều sử dụng trang phục cổn miện, với những quy định chặt chẽ về hoa văn chương thêu t...
08/08/2026

Vua cùng các đại thần triều Nguyễn đều sử dụng trang phục cổn miện, với những quy định chặt chẽ về hoa văn chương thêu trên áo cổn, số lượng những sợi lưu rủ trước mũ miện. Việc các vua Nguyễn sử dụng áo cổn thêu 12 chương, mũ miện với 12 sợi lưu chỉ dành cho hoàng đế thiên triều theo điển lệ Trung Hoa đã thể hiện sự tự tôn, độc lập, “sánh ngang Bắc quốc” của vương triều Nguyễn.

* Hình ảnh trong lễ tế Nam Giao năm 1933.

Một phần quan trọng khác không thể thiếu ở lễ tế Giao là âm nhạc và các vũ khúc do các nhạc công và vũ công thuộc Thanh ...
07/08/2026

Một phần quan trọng khác không thể thiếu ở lễ tế Giao là âm nhạc và các vũ khúc do các nhạc công và vũ công thuộc Thanh Bình thự – cơ quan chuyên trách về vũ nhạc của triều đình – đảm nhận.

Xuyên suốt trong quá trình hành lễ, các ca sinh sẽ xướng lên chín bài ca chương mang hàm ý ca ngợi công đức của các vị thần, nguyện cầu quốc thái dân an theo phần nhạc đệm của đội nhã nhạc. Cùng lúc đó, hai đội múa bát dật văn và võ với 64 vũ công sẽ lần lượt trình diễn các vũ khúc tương ứng với mỗi bài ca chương.

* Hình ảnh lễ tế Nam Giao năm 1933.

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84366033663

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cổ Học Tinh Hoa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share

Category