Bát Tràng Village

Bát Tràng Village Xã Bát Tràng Bát Tràng là tên một xã thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội. Xã Bát Tràng gồm hai làng (thôn) là làng Bát Tràng và làng Giang Cao.

Cả hai làng đều là làng nghề gốm truyền thống. Xe buýt số 47 với trạm cuối Bát Tràng

Xã Bát Tràng nằm ở bờ phía đông (tả ngạn) của sông Hồng. Địa giới hành chính xã Bát Tràng như sau:
•Phía đông giáp xã Đa Tốn.
•Phía bắc giáp xã Đông Dư.
•Phía tây giáp Sông Hồng
•Phía nam giáp xã Kim Lan (huyện Gia Lâm) và xã Xuân Quan (huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Xã Bát Tràng hiện nay được thành lập từ năm

1964, gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang Cao. Làng Bát Tràng

Thời Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An. Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn. Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh. Năm 1964, sau khi xây dựng hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải, thôn Kim Lan bị chia tách với phần còn lại của xã Quang Minh bởi sông Bắc Hưng Hải. Do đó xã Quang Minh được chia tách thành hai xã là Bát Tràng và Kim Lan. Thôn Bát Tràng nay được chia làm 5 xóm, gồm 2 xóm cổ (xóm 1, xóm 2) giáp bờ sông Hồng và 3 xóm mới (xóm 3, xóm 4, xóm 5). Di tích lịch sử, văn hóa

•Đình Bát Tràng
•Đền Bát Tràng
•Kim Trúc Tự - Chùa làng Bát Tràng
•Di tích Nhà tưởng niệm Bác Hồ
•Di tích xưởng in Báo Độc Lập và Bản Quốc Ca Việt Nam đầu tiên tại Bát Tràng
•Miếu Bát Tràng

Văn Từ Bát Tràng

Văn Từ Bát Tràng tên dân gian Bát Tràng quen gọi là Văn Chỉ Bát Tràng, được dựng ngay phía sau Đình Bát Tràng theo lối kiến trúc chữ nhị. Hậu cung là tòa nhà 3 gian, nơi có ban thờ Khổng Tử và 72 vị thánh hiền. Phía trước là tòa Đại Bái 5 gian. Cổng Văn từ xây theo kiến trúc Khuê Văn Các tại Hà Nội. Văn Từ cũng nơi làng Bát Tràng tôn vinh 1 Trạng nguyên, 3 Quận công, 9 tiến sỹ 364 vị khoa bảng của làng khi xưa. Những năm 90 của thế kỷ XX Văn Từ Bát Tràng được dùng làm lớp học. Hiện nay, Văn Từ Bát Tràng là ngoài là nơi thờ tự còn là nơi khuyến học, nơi hội họp của Hội người Cao Tuổi thôn Bát Tràng. Hội làng Bát Tràng
Trước đây, Bát Tràng vào đám từ ngày 15 đến ngày 22 tháng hai âm lịch. Nay đã được rút gọn, thường chỉ diễn ra vào hai ngày 14, 15 tháng hai âm lịch. Trước Tết, vào ngày 25 tháng Chạp, làng đem lễ vật đến làng Đuốc (làng kết chạ với Bát Tràng) xin chặt tre làm cây nêu. Ngày 7 tháng Giêng làm lễ hạ nêu. Cây tre làm nêu được dùng để chẻ tăm, vót đũa. Trước khi vào đám độ 10 ngày, làng tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng để bao sái bài vị thần ở ngôi miếu bên sông. Sau đó dân làng rước bài vị thần ra đình tế lễ. Khi tế, các họ được rước Tổ của mình ra phối hưởng. Họ Nguyễn Ninh Tràng (họ đầu tiên đến làng Bát Tràng) được rước bát hương có lọng che vàng đi ở giữa. Các họ khác rước bát hương có lọng che xanh đi né sang hai bên. Khi tế, chỉ có các vị khoa mục (những người đỗ đạt) mới được vào đình, còn các hào mục (những chức dịch trong làng) đứng ngoài hầu lễ. Bát Tràng còn lệ giữ nghiêm ngôi thứ. Tại đình trải 4 chiếu cạp điều. Có chiếu dành cho các vị đậu tiến sĩ, có chiếu dành cho võ quan được phong tước công, có chiếu dành cho các cụ thọ từ 100 tuổi trở lên. Có năm không đủ người, chiếu nào trống thì làng đặt một cây đèn, chai rượu, đĩa trầu cau vào giữa chiếu để thờ vọng. Hằng năm vào ngày Rằm tháng hai, ngày đầu tiên vào đám, làng biện lễ cúng Thành hoàng gồm một con trâu tơ thật béo, thui vàng rồi đặt lên một chiếc bàn lớn sơn son, kèm theo 6 mâm cỗ và 4 mâm xôi. Tế xong, các quan viên chức sắc, đại diện 20 dòng họ cùng thụ lộc. Hội Bát Tràng có nhiều trò diễn, độc đáo nhất là trò chơi cờ người và hát thờ. Theo lệ, trước hội, làng chọn lấy 2 bà tướng cờ là những người phẩm hạnh, giàu có nhất trong làng. Mỗi bà tướng nhận 16 thiếu nữ tuổi từ 10 đến 15 xinh đẹp, nết na nuôi ăn uống và may cho áo quần thật đẹp. Các cô được rèn tập làm quân cờ trong một tháng mới được ra biểu diễn thi đấu ở sân đình. Làng Giang Cao

Lịch sử

Làng Giang Cao trước đây có tên gọi là Đông Sáng, sau đổi thành Đống Ca và đến thời nhà Nguyễn trước đời vua Ưng Xụy, niên hiệu Đồng Khánh (1885-1888), được đổi thành Giang Cao. Làng Giang Cao nay có 6 xóm đánh số từ 1 đến 6. Nghề làm gốm

So với lịch sử làm gốm làng Bát Tràng (700 năm), làng gốm Giang Cao tuổi nghề còn trẻ (30 năm), nhưng với sự năng động sáng tạo và sức bật vào nghề của đội ngũ thợ trong làng nên sản phẩm gốm Giang Cao đã nhanh chóng có chỗ đứng trên thị trường. Trước đây, người dân làng Giang Cao chủ yếu đi làm thuê cho các lò gốm ở làng Bát Tràng. Thời Pháp thuộc, năm 1941, ông Phán Sồ (người đã đỗ Tú tài) đầu tư xây dựng xưởng sản xuất gốm sứ Ngọc Quang, được coi là xưởng gốm đầu tiên của làng Giang Cao.

Đến năm 2010, làng Giang Cao có 41 công ty, doanh nghiệp tư nhân và 774 hộ tham gia sản xuất gốm sứ. Sản phẩm gốm sứ ước tính theo quy đổi của làng luôn chiếm hơn 55% tổng sản phẩm của xã Bát Tràng. Sản phẩm gốm Giang Cao được chọn cung cấp nguyên liệu cho dự án Con đường Gốm sứ ven sông Hồng - công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, phục hồi di tích Hoàng thành Thăng Long, di tích Cố đô Huế, khu chùa Bái Đính ở Ninh Bình. Ngày 26/01/2010, làng Giang Cao đã được UBND thành phố Hà Nội trao bằng công nhận đạt danh hiệu Làng nghề truyền thống Hà Nội cùng với 15 làng nghề khác. Di tích lịch sử, văn hóa

•Đình làng Giang Cao: Đình làng được xây dựng cách đây hơn 600 năm, hiện nay còn lưu giữ được 9 bản sắc phong từ đời Vĩnh Khánh thứ II đến đời Khải Định. Đình được công nhận xếp hạng di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
•Chùa Tiêu Dao
•Miếu Bản

Văn Chỉ

Ghi tên các vị khoa bảng, đỗ đạt như cụ Nguyễn Văn Bính chánh tiến sĩ làm quan đến chức Thị lang, cụ Lương Công Bật, đỗ hương cống làm quan đến chức Hiệu lý Hàn lâm viện...

13/03/2026

Trong văn hóa Á Đông, con ngựa không chỉ là phương tiện mà còn là biểu tượng của sự thăng tiến, bền bỉ và khí chất quý tộc.
Dưới đây là thông tin chi tiết về 10 tác phẩm này để mọi người cùng hiểu rõ hơn tại sao chúng lại xuất hiện trong video năm mới này nhé:

1. Mao Công Đỉnh (西周 毛公鼎)
Dịch: Đỉnh đồng của Mao Công thời Tây Chu.

Chi tiết: Đây là một trong "Hàn lâm tam bảo" của Bảo tàng Cố cung. Dù không trực tiếp vẽ ngựa, nhưng đây là báu vật trấn quốc với bài minh văn dài nhất thế giới (gần 500 chữ) khắc bên trong lòng đỉnh, tượng trưng cho quyền uy và lịch sử dân tộc.

2. Tam thái Mã cầu Thị nữ dũng (唐 三彩馬球仕女俑)
Dịch: Tượng gốm Tam thái thiếu nữ chơi mã cầu (polo) thời Đường.

Chi tiết: Tác phẩm phản ánh sự phóng khoáng của phụ nữ thời Đường. Những bức tượng gốm với ba màu chủ đạo (xanh lục, vàng, trắng) tái hiện cảnh các quý cô cưỡi ngựa chơi bóng rất sinh động.

3. Lang Thế Ninh "Bách Tuấn Đồ" (清 郎世寧《百駿圖》)
Dịch: Tranh "Trăm con ngựa" của họa sĩ Lang Thế Ninh thời Thanh.

Chi tiết: Lang Thế Ninh là một họa sĩ người Ý phục vụ trong triều đình nhà Thanh. Tác phẩm này là sự kết hợp hoàn hảo giữa kỹ thuật phối cảnh, đổ bóng phương Tây và mực tàu phương Đông, vẽ 100 con ngựa với đủ các tư thế.

4. Từ Bi Hồng "Trì khu bạt thiệp" (民國 徐悲鴻 馳驅跋涉)
Dịch: Tác phẩm "Sải bước dặm trường" của Từ Bi Hồng.

Chi tiết: Từ Bi Hồng là bậc thầy vẽ ngựa hiện đại. Ngựa của ông không chỉ là con vật mà còn mang tinh thần quật cường của dân tộc, với những nhát bút phóng khoáng, mạnh mẽ và đầy cơ bắp.

5. Lang Thế Ninh "A Ngọc Tích trì mâu đãng khấu đồ" (清 郎世寧 畫阿玉錫持矛盪寇圖)
Dịch: Tranh "A Ngọc Tích cầm giáo dẹp giặc" của Lang Thế Ninh.

Chi tiết: Một bức tranh chân dung chiến binh dũng mãnh cưỡi ngựa. Con ngựa trong tranh được vẽ chi tiết đến từng sợi lông, thể hiện sự trung thành và sức mạnh nơi chiến trận.

6. Hàn Cán "Mục mã đồ" (唐 韓幹 牧馬圖)
Dịch: Tranh "Chăn ngựa" của Hàn Cán thời Đường.

Chi tiết: Hàn Cán nổi tiếng với quan điểm "lấy ngựa trong chuồng làm thầy". Ngựa của ông thường mập mạp, khỏe khoắn, đúng tiêu chuẩn thẩm mỹ "lấy béo làm đẹp" của thời Đường.

7. Mộc mã (木馬)
Dịch: Ngựa gỗ.

Chi tiết: Có thể đây là một món đồ chơi dân gian hoặc đạo cụ trong cung đình, tượng trưng cho sự hồn nhiên và niềm vui trong dịp Tết.

8. Thanh: Trúc căn điêu "Mã thượng phong hầu" (清 竹根雕 馬上封侯)
Dịch: Tác phẩm điêu khắc từ rễ tre "Mã thượng phong hầu".

Chi tiết: Đây là một cách chơi chữ của người xưa. Hình ảnh con khỉ (Hầu) ngồi trên lưng ngựa (Mã thượng) mang ý nghĩa chúc tụng: "Sẽ sớm được phong quan tiến chức".

9. Ngọc Long mã phụ đồ (清 玉龍馬負圖)
Dịch: Tượng ngọc "Ngựa rồng cõng Hà Đồ" thời Thanh.

Chi tiết: Dựa trên truyền thuyết Long Mã xuất hiện trên dòng sông Hoàng Hà, cõng trên lưng bức đồ trận (Hà Đồ), giúp vua Phục Hy sáng tạo ra Bát quái. Tác phẩm tượng trưng cho điềm lành và trí tuệ thiên định.

10. Gia Tĩnh Ngũ thái Thiên mã văn cái hũ (明嘉靖 五彩天馬紋蓋罐)
Dịch: Hũ có nắp vẽ họa tiết Thiên mã bằng kỹ thuật ngũ thái, thời vua Gia Tĩnh nhà Minh.

Chi tiết: Một món đồ sứ rực rỡ với hình ảnh "Thiên mã" (ngựa trời) đang phi nước đại giữa những tầng mây hoặc sóng nước. Kỹ thuật phối màu ngũ thái (5 màu) thời kỳ này rất sắc sảo và tươi tắn.
Source: 國立故宮博物院

01/03/2026

TIỂU SỬ TÓM TẮT NGƯỜI ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU HĐND THÀNH PHỐ HÀ NỘI NHIỆM KỲ 2026 - 2031 - Đơn vị bầu cử số 28!

Address

Bat Trang, Ha Noi, Viet Nam
Gia Lâm

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bát Tràng Village posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share