Vietnamese Heritage Museum

Call Directions Website Contact the museum

Vietnamese Heritage Museum Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum - VHM)

VHM mang Sứ Mệnh là sưu tầm, thu góp, bảo tồn và phổ biến những chứng tích của người Việt tỵ nạn kể từ biến cố năm 1975. Với Định Hướng là nơi lưu trữ những chứng tích sống của một đất nước và dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đen tối, và là động lực nền tảng để các thế hệ người Việt luôn đứng lên đòi quyền tự quyết cho sự tồn vong mai sau.

Mr. Henry Kamm's Pulitzer Prize-Winning Reports on the Indochinese Refugee Crisis and the Vietnamese Boat People -  Engl...
10/06/2026

Mr. Henry Kamm's Pulitzer Prize-Winning Reports on the Indochinese Refugee Crisis and the Vietnamese Boat People - English below

Năm 1978, ký giả Henry Kamm đã được vinh dự trao Giải Pulitzer danh giá nhờ vào loạt bài phóng sự do ông viết về làn sóng người tị nạn Đông Dương, nhất là sự kiện những thuyền nhân Việt Nam đang lênh đênh trên Biển Đông đi tìm tự do.

Trong những năm tháng đầy biến động ấy, đã có không ít nhà báo, ký giả như như ông Henry Kamm. Họ đã dùng ngòi bút để báo nguy cho thế giới biết đến thân phận của những con người không còn khả năng tự cất tiếng kêu cứu. Họ đã viết ra những bài tường thuật trung thực và cảm động để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh lương tâm nhân loại về thảm cảnh của hàng trăm ngàn người Việt Nam liều mình vượt biển.

Qua những bài ký sự của Henry Kamm, thế giới được nhìn thấy rõ hơn nỗi thống khổ của những đoàn người trốn chạy chế độ cộng sản: Những con thuyền mong manh bị bão tố vùi dập, những gia đình tan tác giữa biển khơi, những người sống sót nhưng bị nhiều quốc gia từ chối tiếp nhận, khiến phải tiếp tục lênh đênh không biết đâu là bến đỗ…

Ngày nay, khi đọc lại những dòng tường thuật ấy, chúng ta thấm thía vì nỗi đoạn trường mà biết bao thuyền nhân, đồng bào của chúng ta đã phải gánh chịu. Bao nhiêu mạng người đã bỏ mình giữa biển cả, rất nhiều người khác đã phải trải qua những tháng ngày lưu đày và khốn khó trước khi tìm được nơi dung thân.

Có thể nói rằng mười bài phóng sự đăng trên tờ The New York Times, và sau đó tác giả là Ông Henry Kamm được vinh danh bằng Giải Pulitzer, đã góp phần đánh động lương tri của thế giới tự do, thúc đẩy cộng đồng quốc tế quan tâm hơn đến thảm trạng Thuyền Nhân. Nhờ đó, những người vượt biển đến sau đã có thêm cơ hội được cứu vớt, tiếp nhận và hưởng những quy chế tị nạn nhân đạo, chiếu theo hoạt động tích cực của tổ chức Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc.

Sau đây là một trích đoạn từ bài tường thuật của Ông Henry Kamm, đăng ngày 21 tháng 6 năm 1977:

"Theo các nguồn tin hàng hải và dựa vào lời kể của người tỵ nạn, những tín hiệu cấp cứu SOS thường bị phớt lờ để tránh gặp rắc rối tại các hải cảng. Trong một câu chuyện không phải là hiếm về hành trình đến Malaysia, bốn thanh niên đang tạm trú tại một trại tị nạn quá đông đúc trong đồn cảnh sát ở Kuantan kể rằng họ đã rời Vũng Tàu, gần Sài Gòn, vào ngày 15 tháng 12 cùng với bốn người đàn ông khác, tất cả là tám nhân mạng trên một chiếc thuyền nhỏ.

Họ đến Malaysia vào ngày 20 tháng 12 nhưng bị xua đuổi. Đến ngày 23 tháng 12, họ cập bến Singapore và một lần nữa bị buộc phải rời đi khỏi đất nước này.

Sau đó, họ vẫn tiếp tục bị từ chối tại Indonesia. Trong năm ngày lưu lại đây, họ kiếm sống bằng nghề đánh cá, vốn là nghề nghiệp của họ, và bán số cá đánh bắt được cho cư dân trên đảo.

Rời Indonesia, quay trở lại Singapore, họ lại bị trục xuất thêm một lần nữa. Họ tiếp tục đánh bắt và bán cá cho cư dân tại các đảo ngoài khơi Malaysia được vài ngày trước khi chuyển hướng thuyền sang Thái Lan.

Trên đường đi, chiếc thuyền của họ bị vỡ ngoài khơi Kuantan. Họ phải bơi từ 4 giờ chiều cho đến 5 giờ sáng ngày hôm sau, thỉnh thoảng bám vào những tấm lưới cá buộc sẵn vào các phao nổi để lấy lại hơi sức. Bốn người đã vĩnh viễn gửi thân nơi lòng biển lạnh, không bao giờ còn được thấy mảnh đất tự do mà họ hằng ước vọng.

Những người sống sót bị giam giữ trong tù bốn tuần lễ trước khi được “thả” về đồn cảnh sát Kuantan, nơi họ tiếp tục bị giam giữ trong hoàn cảnh bấp bênh của người tị nạn không nơi nương tựa..."

Trong các bài tường thuật của mình, Ông Henry Kamm đã nhiều lần nhắc đến lòng dũng cảm đáng khâm phục của những trẻ thơ Thuyền Nhân Việt. Các em đã phải sống trong cảnh kinh hoàng triền miên, đến độ nỗi sợ hãi đã làm khô cạn cả nước mắt. Ông cũng không ngần ngại phơi bày trước dư luận thế giới sự lạnh lùng và thái độ đối xử thiếu tình người mà không ít quốc gia tự do đã dành cho làn sóng Thuyền Nhân Việt Nam thuở ấy. Đau lòng hơn nữa, ngay tại một số trại tị nạn ở Thái Lan, ông còn ghi nhận những hành vi hà khắc và ngược đãi của cảnh sát đối với các em thiếu nhi:

"Những trẻ em nhỏ tuổi trong một trại tị nạn ở Thái Lan kể rằng các em nam thường là nạn nhân đặc biệt của những hành vi bạo hành từ cảnh sát. Trong cảnh sống buồn chán và bế tắc nơi trại tị nạn, các em thường tụ tập với nhau, hát những bài ca Việt Nam và dùng xoong, nồi, dụng cụ nấu ăn để làm nhạc cụ gõ đệm..."

Theo lời các em nhỏ, và được người lớn xác nhận, cảnh sát thường xuyên đánh đập và đá người tỵ nạn một cách thô bạo chỉ vì những vi phạm nhỏ đối với nội quy trại hoặc đôi khi lén ra thị trấn vài giờ rồi quay về.

Có những hình phạt đặc biệt hà khắc dành cho thanh thiếu niên tỵ nạn. Đôi khi, các em bị buộc phải trèo lên cây và ngồi trên đó suốt nhiều giờ dưới cái nắng thiêu đốt, mà còn bị đàn kiến đỏ cắn đốt hành hạ. Những biện pháp trừng phạt như vậy đã để lại những ký ức đau thương - ám ảnh sâu sắc đối với nhiều người tỵ nạn trẻ tuổi." Trích bài tường thuật ngày 24 tháng 6, 1977.

Kính thưa quý vị,

Trong những ngày sắp tới, Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (VHM) sẽ trân trọng gửi đến quý vị một cuốn phim tài liệu về cuộc đời của một thiếu nữ Việt Nam mới 17 tuổi vượt biển tìm tự do vào năm 1978. Trong hành trình đầy hiểm nguy ấy, cô đã rơi vào tay hải tặc Thái Lan và bị bắt cóc để bán vào các ổ mại dâm. Giữa lúc tưởng chừng không còn lối thoát, cô cùng một người bạn đồng hành đã may mắn được ký giả Henry Kamm cứu giúp trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt và hy hữu.

Câu chuyện ấy không chỉ là chứng tích của một giai đoạn bi thương trong lịch sử Thuyền Nhân Việt Nam, mà còn là minh chứng cho lòng can đảm, ý chí sinh tồn và tình người trong cơn hoạn nạn. Giữa biển cả mênh mông, giữa những ngày cùng cực tưởng chừng không còn lối thoát, những nghĩa cử nhân đạo và tấm lòng nhân ái của những con người như ông Henry Kamm đã thắp lên ánh sáng hy vọng, nâng đỡ những phận người lưu lạc trên hành trình đi tìm tự do.
Kính mời quý vị đón xem bộ phim tài liệu đặc biệt này để cùng nhìn lại một trang sử đẫm nước mắt nhưng cũng chan chứa nghị lực của người Việt tị nạn trên con đường đi tìm tự do và nhân phẩm.

Thân ái chào Quý vị

Ban Thông Tin VHM

Giải Pulitzer của Ông Henry Kamm: https://www.pulitzer.org/winners/henry-kamm

In 1978, journalist Henry Kamm was awarded the prestigious Pulitzer Prize for his series of reports on the wave of Indochinese refugees, particularly the plight of Vietnamese boat people adrift on the South China Sea in their search for freedom.

During those turbulent years, there were journalists and correspondents like Mr. Henry Kamm who used their pens to alert the world to the fate of people who could no longer raise their own voices for help. Through honest, compassionate, and deeply moving reporting, they brought international attention to the tragedy of hundreds of thousands of Vietnamese who risked their lives fleeing by sea, and they challenged the conscience of humanity to respond.
Through Henry Kamm's dispatches, the world gained a clearer understanding of the suffering endured by those escaping communist rule: fragile boats battered by storms, families torn apart on the open sea, and survivors turned away by multiple countries, forced to remain adrift with no certainty of where they might find refuge or safety.

Today, when we revisit those reports, we are reminded of the profound sorrow and hardship borne by so many of our fellow Vietnamese boat people. Countless lives were lost at sea, while many others endured months, even years, of exile, deprivation, and uncertainty before finally finding a place to rebuild their lives.

It may be said that the ten reports published in The New York Times, for which Mr. Henry Kamm was later honored with the Pulitzer Prize, helped awaken the conscience of the free world and drew greater international attention to the plight of the Vietnamese Boat People. As a result, many who fled by sea in subsequent years had a greater chance of being rescued, welcomed, and granted humanitarian refugee status through the efforts of the United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR).

The following is an excerpt from a report by Henry Kamm, published on June 21, 1977:

“According to maritime sources and refugee accounts, SOS signals are ignored to avoid difficulties in the next port. In a not untypical account of an arrival in Malaysia, four young men in an overcrowded refugee camp in a police station in Kuantan told how they had left Vung Tau, near Saigon, last Dec. 15, with four other men in a boat. They arrived in Malaysia on Dec. 20 and were driven off; they reached Singapore on Dec. 23, and were driven off.

Next they were chased away from Indonesia, where they had spent five days fishing—their trade—and selling their catch to islanders. They went back to Singapore, to be driven off again. They caught and sold fish for a few days to islanders off Malaysia and set out for Thailand.

Their boat broke up off Kuantan, and they swam from 4 in the afternoon until 5 in the morning, catching their breath occasionally by holding onto fishnets attached to buoys. Four never reached the shore. The survivors were detained in jail for four weeks before being “freed” to the Kuantan police station.”

In his reports, Mr. Henry Kamm repeatedly highlighted the remarkable courage of Vietnamese boat children. Many lived in a constant state of fear, enduring hardships so profound that even tears seemed beyond them. He also did not hesitate to bring to the attention of the world the indifference and, at times, the inhumane treatment that a number of free nations extended toward the wave of Vietnamese boat people during those years. Most heartbreaking of all, in some refugee camps in Thailand, he documented incidents of mistreatment and abuse by police authorities against young children, revealing yet another painful dimension of the refugee experience:

“Younger children in one Thai camp said that teenage boys were particular victims of police brutality because in their boredom they often get together to sing Vietnamese songs and accompany themselves with the percussion of cooking gear.

The children said, and the teen‐agers and adults confirmed it, that police often beat and kicked people severely for minor infractions of camp routine or occasional escapes into town for a few hours. Sometimes the punishment consists of forcing youngsters to climb trees and stay in them under the cruel sun and tormented by red ants for hours.” Excerpt from the report dated June 24, 1977.

In the coming days, the Vietnamese Heritage Museum (VHM) will present a powerful documentary recounting the story of a 17-year-old Vietnamese girl who embarked on a perilous journey across the sea in search of freedom in 1979. During that harrowing voyage, she fell into the hands of Thai pirates and was abducted with the intention of being sold into a prostitution ring. Just as all hope seemed lost, she and a companion were miraculously rescued by journalist Henry Kamm under a set of extraordinarily rare and remarkable circumstances.

This story stands not only as a testament to one of the most tragic chapters in the history of the Vietnamese Boat People, but also as a living tribute to human courage, resilience, and compassion in the face of unimaginable adversity. Amid the vast expanse of the sea, during desperate days when escape appeared impossible, the humanitarian actions and noble spirit of individuals such as Mr. Henry Kamm became a beacon of hope, sustaining those who had nearly lost everything in their quest for freedom.

We warmly invite you to view this special documentary and join us in reflecting upon a chapter of Vietnamese refugee history marked by both profound sorrow and extraordinary perseverance. It is a story of survival, dignity, and the enduring human desire for freedom against overwhelming odds.

VHM

Henry Kamm's Pulitzer Prize-winning Reporting on the Indochinese Refugee Crisis (1978):
https://www.pulitzer.org/winners/henry-kamm

We’re excited to announce that Vietnamese Heritage Museum has won an     grant in Southern California (NBC4 Los Angeles/...
10/03/2026

We’re excited to announce that Vietnamese Heritage Museum has won an grant in Southern California (NBC4 Los Angeles/KNBC, Telemundo 52 Los Ángeles/KVEA). We’re extremely proud to be in good company.

Read more about the program and winners here:
https://www.nbcuniversal.com/article/comcast-nbcuniversal-nbcuniversal-local-award-25m-80-nonprofits-nbc-and-telemundo-owned-stations


Comcast NBCUniversal, NBCUniversal Local Award $2.5M to 80 Nonprofits in NBC- and Telemundo-Owned Stations' Markets

🌟 Celebrating Vietnamese stories and voices on screen — we’re proud to support Viet Film Fest 2026 as a Community Partne...
10/03/2026

🌟 Celebrating Vietnamese stories and voices on screen — we’re proud to support Viet Film Fest 2026 as a Community Partner!

Our partnership with Viet Film Fest 2026 celebrates what connects us: storytelling, culture, and community. Featuring 64 films from across the globe, the festival shines a spotlight on diverse Vietnamese voices and perspectives.

📅 Virtual Festival w/ : October 12–25, 2025
📍 In-Person Festival: October 8–11 at The Frida Cinema
🎟️ Tickets available now at https://vietfilmfest2026.eventive.org/welcome Viet Film Fest
💸 Use our code VHM10 for discounted admission.

Kính mời quý vị xem phim tài liệu mới nhất của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (VHM). Một câu chuyện kể về chuyến đi thả...
09/23/2026

Kính mời quý vị xem phim tài liệu mới nhất của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (VHM). Một câu chuyện kể về chuyến đi thảm khốc nhất của Thuyền Nhân. Xin quý vị xem và phổ biến. Chân thành cảm ơn.

Chuyến Vượt Biển Thảm Khốc Nhất: 82 Người Ra Đi, Chỉ 18 Người Sống ...

Chuyến Vượt Biển Thảm Khốc Nhất: 82 Người Ra Đi, Chỉ 18 Người Sống Sót Trôi Dạt vào Đảo Lubang - Câu Chuyện của Ông Lê K...
09/23/2026

Chuyến Vượt Biển Thảm Khốc Nhất: 82 Người Ra Đi, Chỉ 18 Người Sống Sót Trôi Dạt vào Đảo Lubang - Câu Chuyện của Ông Lê Kim Dũng

“Tôi không ngờ chuyến ra đi định mệnh ấy đã trở thành vết khắc vào tâm trí - không bao giờ phai trong quãng đời còn lại của mình.. Đến hôm nay, mỗi lần nhớ lại, tôi vẫn không thể nào quên được những cảnh tượng đau thương : Tiếng nấc nghẹn của những người mẹ mất con, ánh mắt tuyệt vọng của những người thân nhìn nhau lần cuối..., và từng thân xác gầy mòn trong đói khát đang lặng lẽ khuất xuống lòng biển cả mênh mông. Giữa vùng biển im lìm ấy, cái chết trở nên quá đỗi quen thuộc, đến nỗi những thi thể khô héo được thả xuống mà cá cũng không buồn đụng tới…”
Ngày 26 tháng 6 năm 1979, con thuyền chở ông Lê Kim Dũng âm thầm rời bến Ninh Kiều (Cần Thơ), mang theo khát vọng tự do của 82 con người. Từ giây phút ấy trở đi , họ cứ thế lao vào một cuộc hải trình đầy nghiệt ngã giữa đại dương bao la, nơi sóng gió - đói khát - bệnh tật và tử thần luôn rình rập từng giờ.

Con thuyền lênh đênh suốt 34 ngày đêm trên biển, lạc hướng giữa trùng khơi vô tận. Lương thực và nước uống cạn dần. Những thân người vốn hao gầy từ những năm tháng cơ cực vừa qua nay lại bị biển cả vắt kiệt chút sinh lực cuối cùng. Lần lượt từng người trút hơi thở, và chỉ có biển cả lạnh lùng đón nhận những phận người bất hạnh vào lòng sâu thăm thẳm…

Sau hơn một tháng lênh đênh, con thuyền dạt vào đảo Lubang thuộc Philippines. Nhưng đất liền này chưa phải là bến bờ cứu rỗi. Giữa cảnh đói khát cùng cực, đoàn người buộc phải chia làm hai nhóm: Những người còn chút sức lực, trong đó có anh Dũng, quyết định băng rừng vượt núi mong tìm kiếm sự cứu giúp. Suốt bảy ngày giữa nơi hoang vu, họ lê từng bước chân trên những đôi chân sưng tấy, thân thể rã rời vì đói lả, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt và ranh giới mong manh giữa sống - chết, thêm nhiều người đã nằm lại giữa núi rừng đất khách. Riêng anh Dũng may mắn được nhóm thổ dân trên đảo cứu sống. Khi hồi phục phần nào, ông lập tức tìm cách quay trở lại cứu nhóm đồng hành còn mắc kẹt. Thế nhưng, trước mắt ông chỉ còn là một khung cảnh đau đớn đến tột cùng: 35 người ở lại, bấy giờ tất cả đều đã qua đời. Chỉ còn hai em bé sống sót nhờ ăn thịt những người đã chết, kể cả thi thể của chính cha mẹ mình…

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, với nội dung của video này, ông Dũng không chỉ thuật lại thân phận của riêng mình, ông đang thay lời cho những người đã khuất, những người vĩnh viễn nằm lại giữa lòng đại dương hay trên hòn đảo hoang vu ấy. tất cả họ từng có tên tuổi - gia đình, từng mang nặng những ước mơ rất đỗi bình dị và niềm hy vọng cháy bỏng về một cuộc sống tự do, nhưng họ đã không bao giờ được nhìn thấy bến bờ hằng hướng tới.

Xin kính mời quý vị cùng lắng nghe lời chứng của ông Lê Kim Dũng, một trong số 18 người sống sót trên chiếc thuyền chở 82 người ra đi năm ấy, để hiểu thêm về một chương đầy bi thương của lịch sử thuyền nhân Việt Nam, và đồng thời cũng để tưởng nhớ những người đã gửi thân xác họ vào biển cả - nơi đất lạ, trên hành trình đi tìm tự do.

Chuyến Vượt Biển Thảm Khốc Nhất: 82 Người Ra Đi, Chỉ 18 Người Sống ...

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI NHẬN CỦA VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT  (Vietnamese Heritage Museum - VHM)Tựa sách: Rừng PhongTác ...
09/11/2026

GIỚI THIỆU SÁCH MỚI NHẬN CỦA VIỆN BẢO TÀNG DI SẢN NGƯỜI VIỆT (Vietnamese Heritage Museum - VHM)

Tựa sách: Rừng Phong
Tác giả: Nhà Thơ Vũ Hoàng CHương
Ngày xuất bản: 15 tháng 9 năm 1954
Nhà xuất bản: Phạm Văn Tươi 16 Sabourain Saigon
Người tặng: Đỗ Thắng
Ngày Nhận: Ngày 19 tháng 8, 2025
Nơi Giữ: Trung Tâm Nghiên Cứu của VHM

Lời Giới Thiệu
Rừng Phong là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, được xuất bản tại Sài Gòn năm 1954 do nhà xuất bản Phạm Văn Tươi ấn hành, với phần trình bày mỹ thuật của thi sĩ Đinh Hùng. Tập thơ gồm gần bốn mươi bài, đánh dấu một chặng đường quan trọng trong hành trình thi ca của họ Vũ, từ những cơn say cô độc và khắc khoải của Thơ Say đến những suy tưởng u huyền về kiếp người, quê hương, vận nước và cõi tâm linh.

Trong Rừng Phong, người đọc bắt gặp một Vũ Hoàng Chương trầm tĩnh hơn, ưu tư hơn, nhưng cũng bao dung và hướng thượng hơn. Những vần thơ không còn chỉ là tiếng thở dài của một thi nhân lạc loài giữa nhân thế, mà đã trở thành lời chiêm nghiệm về thân phận con người trước bể dâu thời cuộc. Với cảm hứng siêu thoát, nét đẹp hoài cổ cùng ánh sáng của niềm tin tôn giáo, tập thơ đã để lại nhiều thi phẩm giá trị như Nguyện Cầu, Nhớ Cố Nhân, Ngẫu Cảm, Bài Ca Sông Dịch và nhiều bài thơ khác đã làm phong phú thêm gia tài thi ca Việt Nam.

Không chỉ phản ánh tâm tư của một thi sĩ lớn trước những biến chuyển của thời đại, Rừng Phong còn là cuộc kiếm tìm không ngơi nghỉ về ý nghĩa của đời sống và chốn nương tựa cho tâm hồn. Chính bởi vậy, tập thơ đã góp phần xác lập vị trí đặc biệt của Vũ Hoàng Chương trong nền văn học Việt Nam thế kỷ XX, như một tiếng thơ vừa tài hoa vừa chất chứa nỗi niềm dân tộc.

Ấn bản hiện lưu giữ tại Bảo Tàng Di Sản Người Việt có một giá trị đặc biệt. Trong sách còn nguyên dòng đề tặng viết tay cùng chữ ký của tác giả gửi đến ông Nguyễn Sỹ Tế, người bạn tri âm, đồng thời là một nhà giáo, nhà văn, nhà thơ luôn nâng niu và trân trọng văn chương chữ nghĩa. Dòng bút tích ấy không chỉ là một kỷ niệm văn học quý hiếm, mà còn là chứng tích đẹp đẽ của một tình bằng hữu giữa những tâm hồn cùng chung tình yêu đối với thi ca và văn hóa dân tộc.

Nhân dịp giới thiệu hiện vật quý này đến công chúng yêu văn học, chúng tôi xin trân trọng thông báo Lễ Tưởng Niệm Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương sẽ được tổ chức tại Đài SBTN vào lúc 1 giờ chiều, Chủ Nhật ngày 20 tháng 9 năm 2026. Đây là cơ hội để thân hữu, độc giả và những người yêu mến thi ca cùng nhau tưởng nhớ một tài năng lớn của văn học Việt Nam, người đã để lại cho hậu thế những vần thơ đẹp, sang trọng và bất tử với thời gian.

Kính mong quý vị tiếp tục gửi tặng những kỷ vật, sách vở và tài liệu đến cho Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum - VHM) để làm phong phú cho di sản của người Việt Nam tại hải ngoại.
Liên lạc điện thoại: 714-846-8438
Email: [email protected]

09/05/2026

Visit VHM!! Vietnamese Heritage Museum

Thảm trạng cưỡng bức hồi hương:  “Thà tôi bị bắn chết để con tôi được định cư.” - Câu Chuyện của Bà Trịnh Thị Tuyết Nhun...
08/27/2026

Thảm trạng cưỡng bức hồi hương: “Thà tôi bị bắn chết để con tôi được định cư.” - Câu Chuyện của Bà Trịnh Thị Tuyết Nhung

“Bằng mọi giá tôi phải vượt qua gian nguy để thoát khỏi Việt Nam, tìm lấy tự do cho bản thân và gia đình. Dẫu bị đánh đập tàn nhẫn, đòn roi liên tiếp giáng xuống thân xác gầy yếu này, tôi vẫn một lời đáp: ‘KHÔNG’. Mỗi tiếng ‘KHÔNG’ thốt ra là mỗi lần đau đớn tăng thêm, nhưng tôi cam lòng chịu đựng: Thân xác thà chịu khổ nhục còn hơn phải quay về sống dưới chế độ cộng sản.”

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà Tuyết Nhung phải sống trong hoàn cảnh kỳ thị, giới hạn nhiều quyền căn bản với biết bao khó khăn dưới chế độ cộng sản. Cuối năm 1989, khi mùa Giáng Sinh cận kề, bà cùng các con rời bỏ quê hương trên một chiếc thuyền nhỏ, chỉ mong được sống sót ở một nơi nào khác. Suốt ba ngày đêm lênh đênh, họ phải đối mặt trước những cơn “sóng lưỡi búa” khổng lồ liên tiếp giáng xuống con thuyền mong manh.Và cuối cùng, may mắn họ được một chiếc tàu Anh cứu vớt, mở ra con đường sống với một tương lai mới nơi xứ người.

Đầu năm 1990, bà Tuyết Nhung cùng các con được đưa vào trại tị nạn Pulau Bidong, Malaysia. Tưởng rằng sóng gió đã qua và cánh cửa tự do đã mở, nào ngờ một thử thách khác lại chờ đợi phía trước: Hồ sơ định cư bị bác bỏ, tương lai mịt mờ. Bà bị giam giữ, đòn roi liên tiếp trút xuống thân thể để buộc ký giấy hồi hương, ngay trước ánh mắt bất lực trong đau đớn của các con. Sau nhiều năm sống trong cảnh chờ đợi vô vọng, bà đành trở về Việt Nam vào năm 1996.

Thế nhưng, ngọn lửa khát vọng tự do vẫn âm thầm cháy sáng trong lòng người mẹ ấy. Năm 1998, qua chương trình ROVR, bà và gia đình cuối cùng được chấp thuận định cư tại Hoa Kỳ, khép lại chặng đường những năm tháng cực khổ và khai mở sang hoàn cảnh mới trong tự do.

Câu chuyện của bà Trịnh Thị Tuyết Nhung không chỉ là ký ức của một chuyến vượt biển tìm tự do, mà còn là chứng tích của lòng mẹ, của ý chí bất khuất và sức chịu đựng phi thường trước những nghịch cảnh khắc nghiệt của đời người.

Lời bà Trịnh Thị Tuyết Nhung tâm sự sống động của một chứng nhân về hành trình tìm tự do của người Việt lưu vong sau biến cố Tháng Tư 1975. Đó là câu chuyện của tinh thần quả cảm, của những hy sinh thầm lặng - kiên trì và của khát vọng được sống trong tự do và nhân phẩm.

Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt trân trọng kính mời quý vị trực tiếp lắng nghe câu chuyện của bà Trịnh Thị Tuyết Nhung.

Nếu quý vị có những kỷ vật và câu chuyện muốn được chia sẻ, xin vui lòng liên lạc với chúng tôi qua:
➤ Email: [email protected]
➤ Phone: 714-846-8438 (714-VHM-VIET)
➤ Website: http://vietnamesemuseum.org
➤ Facebook: vietnamesemuseum
➤ Hộp Thư: P.O. BOX 27372, Santa Ana, CA 92799
https://youtu.be/zoG4g5c00ec

Thảm trạng cưỡng bức hồi hương: “Thà tôi bị bắn chết để con tôi đư...

08/21/2026

Address

13962 Seaboard Cir
Garden Grove, CA
92843

Opening Hours

Thursday 10am - 4pm
Friday 10am - 4pm
Saturday 10am - 4pm
Sunday 1am - 4pm

Telephone

+17148468438

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Vietnamese Heritage Museum posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Vietnamese Heritage Museum:

Shortcuts

Share

Category