Những câu chuyện nhỏ về Hồ Chủ Tịch

  • Home
  • Những câu chuyện nhỏ về Hồ Chủ Tịch

Những câu chuyện nhỏ về Hồ Chủ Tịch Những câu chuyện từ đời thường cho đến những quyết định mang tính lịch s?

28/09/2026

Khi kẻ thù buông súng
Liệu họ có còn là kẻ thù hay không ?

Trong cuộc chiến mà đạn bom không ngừng xới tung từng tấc đất quê hương, giữa ranh giới mong manh của sống và ch*t, một con đường mà không phải người nào trong sự khốc liệt của chiến tranh cũng dám lựa chọn. Đó là con đường của lòng nhân ái mà nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã lựa chọn

Giữa mùa đông khốc liệt năm 1946, khi tiếng súng kháng chiến toàn quốc vừa bùng lên, Bác đã làm một việc bất ngờ: gửi thư cho những tù binh Pháp. Không phải thư của kẻ chiến thắng gửi kẻ bại trận, mà là những dòng chữ nồng ấm tình người, vỗ về những người lính xa xứ nhân dịp Giáng sinh. Người viết, họ chẳng qua cũng chỉ là nạn nhân của guồng máy thực dân. Và rồi, từ trong khói lửa hận thù, Người thả vào đó một ước mơ: một ngày kia, 2 dân tộc Việt – Pháp sẽ nắm tay nhau trong hòa bình, hữu nghị.

Chắc chắn đó không phải là những lời lẽ xã giao ngoài mặt trận. Đó là triết lý sống, là lẽ sống của Người.

Những năm tháng ấy, bộ đội ta còn thiếu từng hạt cơm, manh áo, viên thuốc. Vậy mà, những người lính bên kia chiến tuyến vẫn được đối xử bằng tất thảy những gì nhân đạo nhất mà chúng ta có thể chật vật dành cho họ. Sau chiến dịch Biên giới 1950, chính Bác đã không quản ngại đường sá xa xôi, đến tận nơi giam giữ các sĩ quan Pháp. Người ta còn kể lại, trong một lần đến thăm, nhìn thấy một sĩ quan Pháp đang ốm nặng, run rẩy trong cái lạnh cắt da, Bác đã lặng lẽ cởi chiếc áo khoác trên người mình, nhẹ nhàng đắp lên người ông ta. Một cử chỉ lặng lẽ thôi, nhưng vĩ đại vô cùng. Người lính ấy nào có hay, hơi ấm vừa bao bọc lấy mình đến từ trái tim của chính lãnh tụ đối phương.

Tháng 3/1953, một quyết định được ký, thả tự do cho 200 tù binh Bắc Phi. Đây hoàn toàn không chỉ là một hành động chính trị. Đấy là một lời khẳng định vang vọng khắp các thuộc địa: Người Việt Nam cầm súng để đập tan xiềng xích chủ nghĩa thực dân, chứ không bao giờ cầm súng để thù hận những người dân lao động khốn khổ trên thế giới. Với Người, nếu vì cơn giận nhất thời mà hạ sát tù binh, ta có thể thỏa lòng trong phút chốc, nhưng sẽ đánh mất thứ còn quý giá hơn cả chiến thắng: đó là đạo lý, là nhân nghĩa, là lương tri của một dân tộc. Đánh giặc phải giữ chính nghĩa, ngay cả khi căm hờn lên đến tột cùng.

Lịch sử nhân loại sẽ mãi nhắc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ bởi Người đã dẫn dắt cả một dân tộc nhỏ bé làm nên kỳ tích độc lập. Lịch sử còn nghiêng mình, bởi ngay giữa tâm bão của cuộc chiến sinh tử, Người vẫn kiên định, dịu dàng gìn giữ phẩm giá cho một con người – dù họ từng là kẻ đứng ở bên kia đầu súng.

Sức mạnh vĩ đại nhất của một dân tộc, suy cho cùng, không chỉ nằm ở khả năng chiến thắng kẻ thù. Sức mạnh ấy nằm ở trái tim biết rung lên nhịp đập nhân văn, khi đối diện với chính kẻ thù đã hạ vũ khí của mình.

Nguồn: sử ca đỏ

10/07/2026

Nhiều thập kỷ trôi qua. Một vở diễn lố bịch nhưng hoàn hảo đến mức nhàm chán. Sân khấu là Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, nơi năm nào cũng vậy, hơn 160 quốc gia giơ tay, cất lên một bản hợp xướng gần như tuyệt đối: Hãy dỡ bỏ lệnh cấm vận Cuba. Cả thế giới nói “Có”. Nhưng từ phía bên kia, Những con kền kền từ toà bạch ốc chỉ cần một cái lắc đầu. Một chữ “Không” lạnh lùng, gọn ghẽ, như một nhát dao cắt ngang mọi nguyên tắc mà chính bọn họ rao giảng.

Điều khiến người ta bức xúc không chỉ nằm ở bản thân các lệnh trừng phạt vô lý. Nó nằm ở cái đạo đức giả được mài giũa qua nhiều thập kỷ, hay gọi một cách trang nhã hơn: tiêu chuẩn kép. Hoa Kỳ là một bậc thầy trong việc nói đạo lý cho thế giới về dân chủ, nhân quyền và “luật pháp quốc tế”. Bọn họ nói về những giá trị ấy với sự mê đắm của một tín đồ, đòi hỏi cả hành tinh phải tuân theo ý chí của cộng đồng quốc tế. Thế nhưng, kỳ lạ thay, khi cộng đồng quốc tế ấy cất tiếng nói về Cuba, thì lập tức nó trở thành tạp âm. Rốt cuộc, “ý chí của cộng đồng quốc tế” trong cuốn từ điển quyền lực của Washington hóa ra chỉ là một bản kiến nghị vô giá trị, nếu nó đụng chạm đến lợi ích địa chiến lược.

Dưới lớp vỏ bọc của những biện pháp “ngoại giao cứng rắn”, mục tiêu bị bóp nghẹt lại chính là hơi thở của người dân thường. Đó là những đứa trẻ sinh ra cần thiết bị y tế. Là người lao động đối mặt với vấn đề thiếu năng lượng và lương thực mỗi ngày. Là một nền kinh tế bị trói chặt tứ chi, trong khi những kẻ thực thi lệnh cấm vận ngồi cách đó hàng nghìn dặm, ung dung nhấm nháp tách cà phê và khẳng định rằng tất cả những điều này là “vì nền dân chủ”. Liên Hợp Quốc đã chỉ ra tác động nhân đạo thảm khốc, nhưng dường như lương tâm của siêu cường không nằm ở những con số thống kê.

Sẽ là một sự ngây thơ ch*t người nếu hỏi liệu tiếng nói của hơn 160 quốc gia có thực sự được tôn trọng hay không. Bởi lẽ câu trả lời đã được phơi bày trần trụi suốt mấy chục năm qua, qua từng phiếu bầu bị coi thường. Liệu “dư luận quốc tế” có phải chỉ là một thứ hàng hóa xa xỉ, chỉ có giá trị tham khảo khi không đụng chạm tới lợi ích của kẻ mạnh?

Người dân Cuba không chờ đợi lòng thương hại. Qua nhiều thế hệ sống dưới sức ép của những lệnh cấm vận hà khắc, thứ mà họ mong mỏi thật giản dị đến nao lòng: được phát triển, được mưu cầu một cuộc sống bình thường mà không phải hứng chịu hậu quả từ những toan tính địa chính trị kéo dài hàng thập kỷ.

30 năm trôi qua. Thế giới vẫn hô vang lời kêu gọi. Người Cuba vẫn kiên cường. Và kẻ khổng lồ phương Bắc vẫn tiếp tục cuộc chiến tranh thời bình của riêng mình, nơi bọn họ không thả bom, nhưng thả những văn bản trừng phạt, âm thầm gi*t ch*t tương lai của cả một dân tộc. Có lẽ sự thật đáng hổ thẹn nhất không nằm ở một nghị quyết không có tính ràng buộc, mà là ở chỗ, trong vở kịch câm này, lợi ích của những con người bằng xương bằng thịt vẫn mãi mãi chỉ là đạo cụ sân khấu, bị nghiền nát dưới guồng quay của chủ nghĩa bá quyền. Họ tiếp tục thở, nhưng là thở trong một cỗ máy đếm ngược đang bị bóp nghẹt dần bởi bàn tay của những kẻ tự xưng là người bảo hộ cho tự do.

08/07/2026

Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam đối với Nguyễn Thành Nam (SN 1961) và Trần Việt Anh (SN 1993) để điều tra về hành vi bị cáo buộc liên quan đến việc làm, tàng trữ và phát tán tài liệu nhằm chống Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Theo thông tin từ cơ quan chức năng, quá trình điều tra bước đầu xác định hai bị can đã tham gia làm, lưu giữ và phát tán nhiều video cùng cuốn sách mang tên “Chuyện với Thanh – lời kể mới về ánh sáng”. Các tài liệu này bị cho là có nội dung xuyên tạc lịch sử cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, đồng thời xúc phạm danh dự, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng một số lãnh đạo khác.

Mọi kết luận cuối cùng về vụ án sẽ được làm rõ thông qua quá trình điều tra, thu thập chứng cứ và xét xử theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, một nguyên tắc không thay đổi là mọi hành vi vi phạm pháp luật, nếu được chứng minh, đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bị xử lý nghiêm minh.

Đấu tranh với các hành vi làm giả, xuyên tạc thông tin, bôi nhọ lịch sử hay xâm phạm lợi ích của quốc gia là công việc đòi hỏi sự thận trọng, khách quan và thời gian. Cơ quan chức năng sẽ tiếp tục mở rộng điều tra để làm rõ toàn bộ sự việc, xác định trách nhiệm của từng cá nhân liên quan, bảo đảm không bỏ lọt vi phạm nhưng cũng không làm oan người vô tội.

Pháp luật luôn là thước đo cuối cùng. Ai sai đến đâu sẽ phải chịu trách nhiệm đến đó, trên cơ sở chứng cứ và quy định pháp luật hiện hành.

02/07/2026

Không phải ánh sáng, mà bóng tối mới sinh ra các vị thần. Không phải chân lý, mà nỗi sợ – nguyên thủy và tuyệt đối – mới là người mẹ của mọi đức tin.”

Vậy đó. Con người có thể dùng đức tin qua thời gian để dựng Chúa, dựng Phật, dựng Allah từ một lỗ hổng mang tên bất lực. Khi chưa hiểu nổi cái ch*t, họ đổ cho “ý trời”. Khi bão giông cày nát mùa màng, họ quỳ lạy mưa, lạy gió, lạy một bóng hình vô danh mà chính họ cũng không dám gọi tên. Rồi họ đúc tượng, xây đền, chép kinh, rồi nhân danh đấng ấy – gi*t người không ghê tay. Đức tin trở thành xiềng xích. Thần thánh trở thành bảo chứng cho quyền lực. Và tôn giáo, từ tiếng thì thầm nơi đáy hồn, bị bóp méo thành tiếng thét của bạo tàn và ngu muội.

Hãy lật sử mà xem: bao cuộc chiến nổ ra nhân danh Chúa, nhân danh Phật, nhân danh Allah – nhưng chưa từng có trận chiến nào nhân danh lý trí. Người ta tà.n s.át nhau vì khác đức tin, nhưng chẳng ai ché.m gi*t nhau vì khác phép cộng. Điều đó nói lên tất cả.

Nhưng xin đừng vội kết luận ai là kẻ bài trừ tín ngưỡng.

Bài viết chỉ muốn vạch một ranh giới mong manh nhưng rõ ràng rằng: giữa đức tin của người sợ hãi và đức tin của người biết ơn. Giữa tôn giáo để trị và tín ngưỡng để nhớ.

Ở Việt Nam, ngọn khói nhang không bay lên trời để mua chuộc thiên đường, mà lặng lẽ quấn quanh bàn thờ tổ tiên – một sự hiện diện không lời nhưng day dứt. Người Việt không thắp nén hương vì tin ông bà sẽ “độ” cho trúng số, thoát nạn. Họ thắp hương vì một lẽ giản dị và cũng vô cùng lớn lao: để nhớ mình là ai.

Đó không phải là mê tín. Đó là đạo lý. Là sợi dây rốn vô hình nối một đứa trẻ hôm nay với bao lớp người đã khuất – những người đã đổ mồ hôi, đổ máu, đổ cả thanh xuân chỉ để giữ lại cho con cháu một dòng họ, một tiếng nói, một thửa ruộng, một bờ tre đầu làng. Thờ cúng tổ tiên là một cuộc đối thoại thầm lặng với quá khứ, nơi người sống không van xin mà nhận nợ – món nợ không thể trả hết, nên chỉ còn biết khắc ghi.

Chúng ta có thể gạt bỏ mọi giáo điều trên trời. Nhưng ta không có quyền quên những xương thịt dưới đất. Ta có thể phủ nhận mọi phép màu siêu hình. Nhưng nếu thiếu đi mạch ngầm biết ơn, ta chỉ là những kẻ trôi nổi, vô danh, vô định.

Giữa cơn lốc của mê tín lợi dụng, giữa hàng nghìn lời sấm truyền được thổi phồng, người Việt vẫn lặng lẽ giữ một ngọn đèn dầu, đặt trước bàn thờ gia tiên. Không phải để cầu may. Mà để tự hỏi – và để trả lời – bằng cả dòng máu đang chảy:

“Ta từ đâu tới? Ta nợ ai? Ta sẽ đi về đâu với cái nợ ấy?”

Đó là đức tin không cần giáo hội, không cần hình phạt, không cần đe dọa. Chỉ cần một nén nhang, một lòng thành – và một dòng máu – là đủ để nó trở thành bất tử.

Vậy thì, ai đang vội phủ nhận tất cả thần thánh – xin hãy cúi đầu trước bàn thờ ông bà trước khi lên tiếng. Và ai đang mù quáng tin vào một đấng toàn năng – xin hãy học nơi người Việt cách thờ cúng mà không quỵ lụy, cách tin mà không sợ hãi.

Bởi lẽ, khác biệt lớn nhất không phải giữa tin và không tin, mà giữa tin bằng nỗi sợ và tin bằng lòng biết ơn.

Một đức tin biết nhìn lại – hơn cả một đức tin chỉ biết van xin – mới là niềm tin an lòng đích thực của nhân loại.

nguồn: sử ca đỏ

26/06/2026

Lịch sử có một quy luật rất lạnh lùng: một chính quyền tồn tại bằng viện trợ nước ngoài có thể kéo dài chiến tranh… nhưng rất khó tồn tại lâu dài trong lòng dân tộc mình.

Từ Nguyễn Văn Thiệu đến Volodymyr Zelenskyy, điều khiến người ta liên tưởng không chỉ là những bài phát biểu giữa thời chiến hay những chuyến công du cầu viện khắp thế giới, mà là hình ảnh của các chính quyền phải đặt số phận quốc gia vào bàn tay của những cường quốc bên ngoài.

Một bên từng sống nhờ những chuyến vận tải quân sự từ Washington. Một bên sống giữa các gói viện trợ quân sự và tài chính từ phương Tây. Điểm chung lớn nhất của các mô hình quyền lực phụ thuộc ngoại bang là: càng nhận nhiều vũ khí, họ càng khó tự quyết số phận của chính mình.

Lịch sử thế kỷ XX đã cho thấy, không một chế độ nào có thể đứng vững mãi nếu đánh mất sự đồng thuận dân tộc và để chiến tranh trở thành “nền kinh tế tồn tại” của mình. Bởi bom đạn ngoại bang có thể giữ một chính quyền tồn tại thêm vài năm… nhưng không thể thay thế ký ức lịch sử, bản sắc dân tộc và khát vọng tự quyết của nhân dân.

Đế quốc nào rồi cũng sẽ tính toán lợi ích của họ trước tiên. Khi bàn cờ thay đổi, những đồng minh phụ thuộc thường là quân cờ bị bỏ lại sau cùng.

Lịch sử luôn tàn nhẫn với những chính thể không thể tự đứng trên đôi chân của dân tộc mình.
nguồn: sử ca đỏ

25/06/2026

Pavel bước vào cuộc đời binh lửa từ rất sớm, mang trong mình lòng căm thù vô hạn đối với áp bức và bất công của chế độ Nga Hoàng cũ. Đối với chàng thanh niên ấy, hy sinh không phải là một khái niệm trừu tượng. Nó hiện hữu qua từng vết thương trên cơ thể, qua những cơn sốt rét rừng trong những năm tháng nội chiến khốc liệt, và qua những đêm không ngủ để xây dựng tuyến đường sắt trong gió tuyết mùa đông.

Đỉnh cao của sự hy sinh anh hùng nằm ở chỗ, ngay cả khi cơ thể Pavel hoàn toàn sụp đổ – mù mắt, bại liệt, bị giam cầm trên giường bệnh – ngọn lửa cách mạng trong trái tim anh vẫn bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết. Đối mặt với sự vô dụng của thể xác, Pavel đã không chọn cái ch*t để giải thoát. Anh đã vượt qua bi kịch cá nhân bằng một cuộc chiến đấu thầm lặng và ngoan cường hơn: cuộc chiến để được tiếp tục cống hiến.

Chủ nghĩa hy sinh anh hùng của Pavel không nằm ở việc lao ra hứng lấy viên đạn của kẻ thù trong một khoảnh khắc bốc đồng. Đó là sự hy sinh trường kỳ, dai dẳng và tự nguyện. Pavel đã đốt cháy tuổi thanh xuân, sức khỏe và tình yêu cá nhân để đổi lấy niềm tin vào một ngày mai tươi sáng cho nhân loại. Khi tình yêu với Tonya Tumanova không thể dung hòa với lý tưởng giai cấp, anh đã dứt khoát từ bỏ mà không hối tiếc, bởi với anh, “lợi ích của cách mạng là tối thượng”.

Nhưng điểm sáng chói nhất làm nên giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm chính là quyết định cuối cùng của Pavel: từ một chiến sĩ cầm súng, anh trở thành một chiến sĩ cầm bút. Trong bóng tối vĩnh cửu của đôi mắt và sự đau đớn tột cùng của thể xác, Pavel đã dùng ý chí để viết nên cuốn sách “Những đứa con của bão táp”. Đây chính là hình thái cao nhất của sự hy sinh anh hùng: biến đau thương thành sức mạnh, biến sự sống đã tàn lụi thành ngọn lửa thắp sáng cho người đời sau.

Đoạn văn bất hủ mà Pavel suy ngẫm bên nấm mồ của những người đồng đội đã trở thành tuyên ngôn sống của hàng triệu thanh niên trên toàn thế giới: “Cái quý nhất của con người là đời sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời – sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người".

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng của Pavel không cổ súy cho cái ch*t vô nghĩa. Nó đề cao sự hy sinh để kiến tạo sự sống. Pavel dạy chúng ta rằng, một người chỉ thực sự ch*t khi họ ngừng chiến đấu cho lý tưởng. Dù trong chiến hào, trên công trường hay trên giường bệnh, Pavel vẫn là người lính tiên phong. Anh không chỉ là “thép đã tôi trong lửa”, mà còn là người thợ rèn vĩ đại, tự tôi luyện tâm hồn mình.

Dù bối cảnh lịch sử đã thay đổi, hình tượng Pavel Korchagin và tinh thần hy sinh anh hùng cách mạng vẫn còn nguyên giá trị. Nó nhắc nhở thế hệ trẻ về sức mạnh của ý chí, về trách nhiệm với cộng đồng, và trên hết, về khát vọng được sống một cuộc đời có ý nghĩa. Pavel đã chứng minh rằng, ngay cả khi định mệnh tước đoạt tất cả, con người vẫn có thể chiến thắng số phận bằng trái tim quả cảm và niềm tin sắt đá vào lẽ phải. Ngọn lửa ấy, vượt qua mọi biên giới và thời gian, vẫn luôn là ngọn hải đăng cho những ai dám sống và hy sinh vì một thế giới tốt đẹp hơn.
Nguồn: sử ca đỏ

21/06/2026

Đêm mùng 1 rạng sáng 2/2/1968, tại Chi khu Cam Lộ (Quảng Trị), Tiểu đoàn 1 đặc công thuộc Trung đoàn 48, Sư 320B, Quân đoàn 3 được lệnh tân công Chi khu Cam Lộ, Quảng Trị. Nhưng khi các mũi tiếp cận mục tiêu, chưa kịp phá hết hệ thống hàng rào và mìn dày đặc thì bị lộ. Sau lời kêu gọi cảm tử của Chỉ huy tiểu đoàn, các chiến sĩ đặc công đã nhanh chóng lấy thân mình vắt qua hàng rào kẽm g*i dày đặc mìn để làm cầu vượt cho đồng đội tiến lên. Một thế trận bất lợi, ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ. Đối phương đã dùng hỏa lực mạnh từ nhiều phía, kể cả pháo từ Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ và các căn cứ khác dội xuống. Pháo sáng treo đầy trời, chiến sĩ ta nằm phơi lưng dưới tầm đạn pháo, thương vong nặng nề. Cả tiểu đoàn hy sinh gần hết. Sáng hôm sau, địch gom 108 thi thể các anh lại một nơi, rải xăng bột, phóng hỏa, rồi dùng xe ủi lèn đất phẳng lỳ...

Trong khoảnh khắc ấy, chủ nghĩa anh hùng cách mạng không còn là những khẩu hiệu được viết trên giấy. Nó hiện lên bằng máu thịt.

Những người chiến sĩ đã lấy chính thân mình đè lên hàng rào kẽm g*i và bãi mìn để mở đường cho đồng đội xung phong. Họ biến cơ thể mình thành chiếc cầu sống giữa lửa đạn. Không ai ra lệnh cho họ phải làm như vậy. Không ai hứa hẹn với họ một phần thưởng nào. Chỉ có niềm tin rằng phía trước là Tổ quốc, phía sau là đồng bào, và cách mạng cần họ hoàn thành nhiệm vụ bằng bất cứ giá nào.

108 người ngã xuống. Phần lớn họ chỉ mới 18, đôi mươi.

Kẻ thù có thể dùng xe ủi lấp đi nơi các anh nằm lại. Có thể đốt cháy thi thể các anh. Có thể xóa dấu vết của một trận đánh. Nhưng không thể chôn vùi được tinh thần của những con người dám lấy cái ch*t để mở đường cho đồng đội tiến công.

37 năm sau, khi hài cốt các anh được tìm thấy, hàng ngàn người dân Quảng Trị đã khóc như tiễn đưa chính người thân của mình. Những giọt nước mắt ấy không chỉ dành cho 108 liệt sĩ. Đó còn là sự tri ân dành cho cả một thế hệ đã sống đúng với lời thề của người cách mạng: sẵn sàng hiến dâng tất cả cho Tổ quốc.

Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam chưa bao giờ được xây dựng từ những huyền thoại xa vời. Nó được viết nên từ những con người rất đỗi bình thường. Những chàng trai rời mái nhà tranh. Những người con gác lại tuổi trẻ. Những chiến sĩ biết mình có thể không trở về nhưng vẫn bước tiếp.

Họ hiểu rằng có những thế hệ sinh ra để hưởng hòa bình, và cũng có những thế hệ sinh ra để trở thành nền móng của hòa bình ấy.

108 liệt sĩ đặc công Cam Lộ đã ra đi từ mùa xuân năm 1968. Nhưng đội hình xung phong của họ chưa bao giờ dừng lại.

Họ vẫn đang tiến lên trong ký ức của dân tộc, trong những trang sử đỏ, trong lòng biết ơn của các thế hệ hôm nay và mai sau. Đó chính là dáng hình đẹp nhất của người anh hùng cách mạng Việt Nam.

Nguồn: sử ca đỏ

19/06/2026

“Nắm thắt lưng địch mà đánh” là một nghệ thuật tác chiến nổi tiếng của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, gắn liền với tư duy quân sự sáng tạo của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh.

Ý nghĩa của chiến thuật này là bám sát quân địch ở cự ly cực gần, khiến đối phương không thể phát huy tối đa ưu thế về pháo binh, xe tăng, không quân và hỏa lực mạnh. Khi khoảng cách chỉ còn vài mét, thậm chí giáp lá cà, bom đạn và pháo kích của đối phương có nguy cơ gây thương vong cho chính lực lượng của chúng.

Đó là cách một đội quân còn nhiều khó khăn về trang bị hóa giải ưu thế công nghệ của đối phương bằng lòng dũng cảm, sự cơ động và ý chí chiến đấu.

Khi đối mặt với kẻ thù sở hữu những vũ khí hiện đại nhất thế giới, người lính Việt Nam đã chọn cách lao thẳng vào giữa lằn ranh sinh tử, nắm chặt thắt lưng quân địch mà đánh, biến ưu thế hỏa lực khổng lồ thành gánh nặng của chính đối phương.

nguồn: sử ca đỏ

16/06/2026

Trên những cánh đồng từng thiếu thốn vật tư, thiếu máy móc và chịu nhiều khó khăn bởi cấm vận, hôm nay những bông lúa vàng đang kể một câu chuyện khác – câu chuyện về tình hữu nghị Việt Nam – Cuba được gieo bằng niềm tin và gặt hái bằng thành quả.

Cuối tháng 5/2026, Chủ tịch nước Cuba Miguel Díaz-Canel đã trực tiếp đến thăm Công ty Nông nghiệp và Chế biến ngũ cốc Los Palacios, tỉnh Pinar del Río, nơi đang triển khai dự án hợp tác trồng lúa giữa Cuba và doanh nghiệp Việt Nam Agri-VMA.

Tại đây, lãnh đạo phía Cuba công bố một con số gây chú ý: năng suất lúa đạt 9 tấn/ha, mức cao nhất được ghi nhận tại khu vực này trong nhiều năm qua. Kết quả này đạt được sau ba vụ sản xuất liên tiếp trên vùng canh tác khoảng 1.000 ha, nơi các chuyên gia và doanh nghiệp Việt Nam chuyển giao giống lúa, vật tư nông nghiệp cùng quy trình thâm canh hiện đại cho nông dân Cuba.

Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Díaz-Canel đánh giá đây là mô hình cần được nhân rộng trên toàn quốc. Cuba hiện vẫn phải nhập khẩu lượng lớn gạo hằng năm để đáp ứng nhu cầu trong nước. Trong khi đó, những cánh đồng ở Los Palacios đã chứng minh rằng khi kinh nghiệm canh tác của Việt Nam kết hợp với điều kiện tự nhiên của Cuba, năng suất có thể tăng lên mức mà trước đây rất khó đạt được.

Theo lãnh đạo Công ty Los Palacios, thành công đến từ hai yếu tố quan trọng mà phía Việt Nam mang tới: nguồn vật tư đầu vào cần thiết và kinh nghiệm hàng chục năm phát triển nền nông nghiệp lúa nước. Các chuyên gia Việt Nam đã hướng dẫn thay đổi phương thức gieo sạ, giảm lượng giống sử dụng, tối ưu quản lý nước và cơ giới hóa sản xuất, giúp giảm đáng kể chi phí nhiên liệu đồng thời nâng cao năng suất.

Đầu năm 2026, giống lúa lai CT16 do phía Việt Nam hỗ trợ đã được trồng trên hơn 1.000 ha tại Los Palacios với năng suất trên 7 tấn/ha. Chỉ vài tháng sau, kết quả thu hoạch mới đã vượt xa con số đó, đạt tới 9 tấn/ha, mở ra triển vọng để Cuba từng bước giảm phụ thuộc vào nhập khẩu gạo.

Điều đáng quý hơn những con số là tinh thần đồng chí giữa hai dân tộc. Trong bối cảnh Cuba còn nhiều khó khăn về kinh tế và năng lượng, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiếp tục đầu tư, cung cấp công nghệ và đồng hành cùng nông dân Cuba. Chính phía Cuba đã thừa nhận rằng những người bạn Việt Nam “không hề do dự một giây phút nào” trước những thách thức hiện hữu.

Từ những năm tháng Việt Nam nhận được sự ủng hộ vô điều kiện của Cuba trong cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, đến hôm nay khi những chuyên gia nông nghiệp Việt Nam giúp những cánh đồng Cuba trĩu hạt, tình hữu nghị ấy vẫn được viết tiếp bằng những việc làm cụ thể.

Trên đất Cuba, không chỉ có lúa đang chín vàng. Đó còn là mùa thu hoạch của tình đoàn kết quốc tế, của nghĩa tình Việt Nam – Cuba đã được vun đắp qua nhiều thế hệ.
nguồn: sử ca đỏ

Address


Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Những câu chuyện nhỏ về Hồ Chủ Tịch posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

  • Want your museum to be the top-listed museum?

Share