18/02/2026
Mồng 2 Tết, ngồi đọc cuốn “Dỡ Mắm” của bác hai Sển, ngẫm lại mới thấy thời nào cũng vậy, quan tốt xấu đều có cả… tui xin trích đoạn từ cuốn sách này và mở đầu câu thơ:
“Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra
Mắm ông thì thúi, mắm bà không thơm”
(câu hát cũ)
THỜI SUY QUỈ LỘNG…
(cách làm việc của mấy ông quan Tây thời Pháp thuộc)
Thế gian thường nói: "Đoạt thành thâu ải thì dễ, thủ thành giữ ải mới là khó!" Quả thật như vậy, suốt tám mươi ngoài năm chiếm Đông-Dương, người Pháp chỉ lo mạnh ai nấy hốt, làm giàu cho mau để lui về xứ thụ hưởng, quên việc bồi-đắp mở mang thuộc-địa, hoặc nói cho đúng, chỉ mở mang một cách ích kỷ, cho nên bao nhiêu thế-hệ quan lại kế-tiếp, chỉ suy-bại và hư-đốn, lần hồi đi đến suy-vong...
… Quan cai-trị trong Nam mà tôi được biết, toàn không thể “bốc thơm” được.
- Một ông làm cai-trị từng ngồi ở Sa-Đéc, Vĩnh Long rồi Bạc-Liêu, tên Petit, tánh tình rất xứng với tên đặt, vừa tiểu-tăm nhỏ nhen, vừa hoành-hành phách-lối.
- Một ông khác tên Brière de l'Île, có lẽ là hậu-duệ của một tướng thuở qua đây chiếm nước ta, cũng cùng một tên như vậy, quan cai-trị nầy da ngăm ngăm đen, hình như dân cù-lao thuộc-địa La Réunion, hơn là đúng người "mẫu-quốc" da trắng, vẫn ham của hối và thường để bọn quan-lại nịnh bợ thao-túng, miễn biết dâng của lễ thì làm chi thì làm...
Trong số tham-biện ở Miền Nam, vẫn có người tốt và có lương tâm, nhưng đó là số ít (Pech, có ngồi tỉnh Sa-đéc), Krautheimer, ngồi tỉnh Bạc-liêu, sau lên làm thống-đốc Nam-kỳ, rồi qua thống-đốc Pagès, hoành-hành và ham gái, nay còn tiếng nhơ với một nữ bác-sĩ, người Nam, chuyên nghề phá thai đến nỗi bị lôi ra xử đại-hình, nhục nhã. Điển hình nhứt là vụ thi-cử như sau:
Thi lên nhứt hạng tham-biện (administrateur de
première classe)
Ngạch tham-biện hạng nhất-phẩm nầy rất hiếm, vì về sau có thể lên đến khâm-sứ (résident supérieur), hoặc thống-đốc ở Nam-kỳ (gouverneur de la Cochinchine). Tôi nay không nhớ rõ điều-lệ ra sao, và mấy trang nầy chẳng qua để nhắc một việc từng nghe buổi trước. Viết toàn vô ác-ý, và xin để độc-giả muốn hiểu sao thì hiểu lấy. Trước tiên, phải nói, kỳ thi nầy có một lần đó thôi, và muốn hiểu rõ ngọn ngành, cần phải biết vị trí chỗ thi, người thi, và giám-khảo kỳ thi ấy.
Chỉ có một thí-viên (hay thí-sinh duy nhứt) và để tránh tiếng, tôi không biên lại danh tánh Pháp, chỉ gọi tên dịch ra tiếng ta, nghe rất nên thơ là Mộng-Huê-Lầu, và gọi tắt là "Mộng-Lầu" thị giả.
Mộng-Lầu, nguyên đã làm "chủ tỉnh Gia-định" nhưng hạt nầy là chỗ trọng, phải đúng là "nhứt hạng tham-biện" nhậm chức, mới khỏi dị-nghị và tranh giành. Chánh-phủ lúc đó rất khéo, nên bày ra cuộc thi, sinh viên dự thi chỉ một người một, và để tránh tiếng gièm-pha, "che mắt thế-gian", , nên chỉ định chỗ thi là phòng cơ-mật-viện đặt dưới lầu dinh Phó-soái (sau đổi gọi Dinh Gia-Long), phòng nầy rộng lớn, bàn ghế lộng-lẫy, đặc biệt là dựa sát bên phòng, có một đường cầu hành-lang (corridor) thoải mái, cuối đường có một buồng tiêu (cabinet d'aisance) là nơi sẽ diễn ra cuộc "che mắt thánh" sẽ thuật sau nầy.
Thí sinh, tuy có một Mộng-Lầu, nhưng giám-thị, canh chừng cuộc thi, chỉ định đến bốn người, toàn là quan cai-trị đồng một hạng với sinh-viên, tức theo mặt luật, một mũi kim qua không lọt, thế mà vẫn có sự trao bài đổi văn, mới là lạ cho.
Đầu đề để trong bì thơ, có gắn khằng đỏ cẩn-mật, từ Toàn-quyền-phủ Hà-nội gởi vào. Hạn chế bài làm trong tám giờ, mở đầu là 8 giờ ban mai, hẹn 16 giờ, tức 4 giờ chiều sẽ góp bài, tan cuộc thi. Tôi xin tóm tắt:
Đầu đề được cho biết, xong rồi, bốn ông giám thị chia nhau ngồi bốn góc, bao vây thí-sinh ở giữa, ông phi-phà điếu thuốc, ông ngưa mặt xem ruồi bay, xem cánh quạt quay vù vù, đinh-ninh "công bằng, chính trực, vô tư" vẹn đủ. Nhưng nửa giờ sau khi khai cuộc, Mộng-Lầu búng ray ra dấu xin được đi cầu, giải thoát, tiểu-tiện. Việc ấy là việc quá thường, nên chánh giám-thị ra lịnh cho một ông đưa Mộng-Lầu qua dãy hành-lang, Mộng-Lầu bước vô cầu, ông đứng ngoài gác cửa. Năm phút sau, họ Mộng bước ra, trở lại phòng lớn ngồi viết bài, huếch-hoác viết chi không hiểu, độ hai giờ sau lại xin phép đi cầu nữa và phen nầy, chánh giám-thị lại sai ông khác đưa đi, cho khỏi có sự thông đồng. Phen nầy, Mộng-Lầu trở vô là viết thoăn-thoắt như "rồng bay phụng múa", chưa đến giờ kết cuộc, Mộng-Lầu đã nạp bài, miệng ngậm thuốc, vừa cười miếng chi, chào các bạn ra về, và một ít lâu sau, có công-điện từ Hà-nội đánh vào, Mộng-Lầu đậu cao, bài làm vừa hay vừa khéo. Thế là Mộng-Lầu được bổ-nhiệm thực-thọ chủ-tỉnh Gia-định với tân-chức "administrateur de lère classe" không ai tròm trèm được lời nào. Sự thật, khi vô phòng tiếu lần đầu, Mộng-Lầu đặt đầu đề trên nắp bình chứa nước giội cầu xí, rồi bước ra, giây lát có một tùy-phái cấn-tín vô lấy đầu đề ấy lên nạp trên văn-phòng, cầu nầy là nơi công-cộng, nên không một ai nghi ngờ, có người chuyên-môn thảo bài xong, giao lại một tùy-phái tin-cậy khác đem để y chỗ ban nãy, Mộng-Lầu chờ xong vô lấy ra chép lại, việc cẩn-mật có "ông trời mà biết", ngoài đương-sự Mộng Lầu và hai tùy-phái, sau thảy đều được lên lon "vệ-úy", "chánh-quản", khỏi nói tiền bạc và mề-đạy không thiếu, nhưng "thiên cơ nào rồi sau cũng lậu"., nên có bài nầy.
Ấy đời Pháp-thuộc, phần lớn là vậy, tôi không nói xấu, chỉ ghi lại cho biết: "huyện ăn theo huyện, phủ ăn theo phủ", ông chánh ăn theo bực ông chánh, nơi tòa-bố Sa-đéc năm xưa nghe nhắc lại có một tham-biện bụng to, tên Bê-na (Bénard), nhà hay dinh ở ngang kinh chợ, ông ta dám đặt một tam-bản có một lính chèo túc trực, "ai muốn qua lo việc với quan lớn"' cứ xuống, ghe, có lính chèo đưa sang kinh lo-lót với quan trên thì chắc được việc trăm phần trăm. Quan nào thanh-liêm không nhận của hối, thì bọn làm việc nơi tòa-bố có cách "xỏ mũi" lối khác, hoặc mấy xâu nem ngon, hoặc chiên chả giò, hoặc giả cách đi săn, lén đưa vào dinh, nguyên một đùi nai tơ "của mua ngoài chợ"! Một hối-lộ kiểu mới là xin "hầu một bàn tơ-nít" với thượng-quan, tìm cách đưa quả banh ngay vào vợt quan, quan mừng tưởng mình chơi được tiến-phát, quên rằng thằng nịnh khéo tâng bốc ông bằng lối "bợ banh" và kể về không thơm thì thà "bợ đít bà lớn" còn nhờ được chút "hương thừa" ", bà lỡ trên tay, cũng khen vồ "có bộ tiêu-hóa tốt"!
Đi thi có nhiều cách để dễ đậu, "đánh phép" tiền, mua đầu-đề, biết bài trước, dặn dò nhau trước rồi sẽ hạch miệng sau, v.v... chỉ vì ngu không đánh phép và cứ tưởng "công-lý vẫn còn" thì già đời làm tớ. Ngày xưa hơn nữa, khi người Pháp chưa đem đàn bà của họ qua đây, lại có thứ hối-lộ đê-tiện và nhục nhã là đưa vợ làm "mỹ-nhơn-kế", kế ấy nay còn lại danh-từ "bằng-cấp da", ít người biết, ít người xài, đích thị văn bằng xưa thường viết trên da thú, gọi
"parchemin", chữ còn ràng-rạng.
Khi tranh cử bằng lá phiếu bỏ vào thùng thăm, ngày xưa ở Lục-tỉnh có cách dò xét không sót một mặt nào, là lá phiếu vẫn chữ viết tay của quan chủ-tỉnh, tỉnh có mấy cử tri tin-nhờ được, thì chủ-tỉnh phát cho mấy lá, những lá ấy rơi vào thùng thăm là biết kẻ kia giữ lời, hoặc tỷ dụ như bầu cử nghị-viên Hạ-nghị-viện Pháp (député), bọn Tây gốc Chà, được phục rượu say mèm và nhốt trước nơi nào đó, cho ăn và sắm áo quần, ban tiền bạc đầy đủ rồi rạng ngày lùa như bầy bò đi bỏ phiếu, đứa hứa được làm gác khám, đứa góp thuế chợ, đứa khác phát thơ, vân vân, mãn cuộc bầu cử rồi, vẫn thất nghiệp như cũ, vì lời hứa ít đi đôi với việc làm. Bởi mải lo thủ lợi gần mà quên lo xa, và xã hội nào như xã hội nấy, đều là "tái diễn tuồng cũ", và "hãy chờ hồi sau phân giải".
(ngày 2-8-1983)
VƯƠNG HỒNG SỂN trích “DỠ MẮM”