Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển

Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển Diễn đàn của những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển, và lưu giữ những bài viết liên quan đến ông..

ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ VỀ CHỢ LỚN CŨ VÀ SỰ RA ĐỜI CHỢ BÌNH TÂY…Bức ảnh tư liệu chính là Chợ Lớn cũ (Marché de Cholon), đầu mối...
06/06/2026

ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ VỀ CHỢ LỚN CŨ VÀ SỰ RA ĐỜI CHỢ BÌNH TÂY…

Bức ảnh tư liệu chính là Chợ Lớn cũ (Marché de Cholon), đầu mối giao thương sầm uất bậc nhất Nam Kỳ một thời, và bức ảnh dưới là Bưu điện Chợ Lớn ngày nay (số 26 Nguyễn Thi, Quận 5).

Trước khi người Pháp cho xây dựng ngôi chợ kiên cố bằng gạch ngói và sườn sắt (như trong ảnh trên), tại vị trí này đã có một ngôi chợ tự phát của người Hoa từ cuối thế kỷ 18, mọc lên sau khi họ rời vùng cù lao Phố (Biên Hòa) về đây lánh nạn. Vì quy mô của nó lớn hơn hẳn các chợ lân cận (như chợ Tân Kiểng, chợ Quán Thừa), người dân quen gọi là "Chợ Lớn" để phân biệt. Cái tên này sau đó được dùng để gọi cho cả một vùng đô thị và một tỉnh riêng biệt.

Ngôi chợ cũ trong ảnh được người Pháp kiên cố hóa vào cuối thế kỷ 19. Điểm đặc trưng nhất của nó chính là tháp đồng hồ bốn mặt ở ngay cổng chính mặt tiền — một biểu tượng đô thị kiểu phương Tây nhưng lại phục vụ cho một không gian giao thương thuần túy Á Đông.

Chợ Lớn cũ nằm ngay đầu rạch Chợ Lớn (nhánh rạch dẫn thẳng từ kênh Tàu Hủ vào, chạy dọc theo trục đường Hải Thượng Lãn Ông ngày nay). Ghe xuồng chở nông sản, lúa gạo từ miền Tây lên có thể neo đậu sát vách chợ để bốc dỡ hàng.

Đến thập niên 1920, do nhu cầu mở rộng đường sá đô thị và ngăn chặn ô nhiễm, người Pháp bắt đầu cho lấp dần các con rạch nội đô (trong đó có rạch Chợ Lớn). Khi rạch bị lấp, lợi thế "trên bến dưới thuyền" của ngôi chợ không còn, cộng thêm việc chợ bị hỏa hoạn và quá tải, việc xây dựng một trung tâm thương mại mới trở nên cấp thiết. Điều này dẫn đến sự ra đời của chợ Bình Tây vào năm 1928 (do ông Quách Đàm hiến đất và bỏ vốn xây dựng).

Theo cụ Vương Hồng Sển mô tả Quách Đàm từng là một người vô gia cư nghèo khổ, phải gánh đôi quang gánh đi lượm ve chai và ngủ nhờ trên vỉa hè khu vực Chợ Lớn. Ông được biết đến là người cực kỳ nhạy bén. Học giả Vương Hồng Sển đã kể lại một "mánh lới" kinh doanh táo bạo làm nên tên tuổi ông: Trong một vụ làm ăn, Quách Đàm sai người đi gom mua sạch lúa gạo, khiến các thương lái khác buộc phải đến hỏi mua lại với giá cao. Nhờ thương vụ này, ông phất lên nhanh chóng, độc quyền nguồn lúa và trở thành "vua lúa gạo" Nam Kỳ. Nhờ sự nghiệp kinh doanh phát đạt, Quách Đàm đã bỏ toàn bộ kinh phí (hơn 2 triệu đồng bạc Đông Dương lúc bấy giờ) để xây dựng nên Chợ Bình Tây.

Vị trí chợ cũ (khu vực Bưu điện Chợ Lớn hiện nay) trở nên quá chật hẹp, ông muốn dời chợ về khu vực mới khang trang hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các tiểu thương buôn bán và làm ăn sầm uất.

Chợ Bình Tây được khởi công xây dựng vào năm 1928, nhưng đáng tiếc là ông đã qua đời năm 1927 trước khi ngôi chợ hoàn thành và khánh thành (năm 1930).

Sau khi chợ Bình Tây đi vào hoạt động và giới tiểu thương chuyển dời về đó, khu đất của ngôi chợ cũ được quy hoạch lại. Vào khoảng đầu thập niên 1930, chính quyền cho xây dựng tòa nhà Bưu điện Chợ Lớn ngay trên nền đất cũ.

Nếu nhìn kỹ vào bức ảnh, bạn sẽ thấy kết cấu mặt tiền của Bưu điện Chợ Lớn ngày nay vẫn giữ nguyên phom dáng hình khối ba gian của cổng chợ cũ năm xưa. Đặc biệt, vị trí của chiếc đồng hồ tròn ở gian giữa mặt tiền bưu điện ngày nay chính là sự kế thừa trực tiếp từ tháp đồng hồ của ngôi chợ thế kỷ 19, dù chiếc tháp cao đã được hạ thấp xuống để phù hợp với công năng của một tòa nhà hành chính.

Ngay phía dưới chiếc đồng hồ của bưu điện hiện tại vẫn còn giữ lại ba chữ cái P & T đắp nổi. Đây là viết tắt của cụm từ tiếng Pháp Postes et Télégraphes (Bưu điện và Điện báo), minh chứng cho giai đoạn lịch sử khi ngành bưu chính viễn thông bắt đầu bén rễ tại Nam Kỳ.

Ngày nay, dù không gian xung quanh đã có nhiều thay đổi theo nhịp sống hiện đại (phần mặt tiền bưu điện đôi khi được tận dụng cho các dịch vụ tiện ích mới), nhưng Bưu điện Chợ Lớn vẫn đứng đó như một chứng nhân lịch sử trầm mặc. Nó lưu giữ ký ức về một thời hoàng kim của rạch Chợ Lớn và điểm khởi nguồn cho cái tên của cả một vùng đất.

V.Q.T

MỘT THOÁNG VÂN ĐƯỜNG PHỦ GIỮA LÒNG BẢO TÀNG THÀNH PHỐ…Sáng nay tui ghé Viện bảo tàng TP.HCM trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm...
06/06/2026

MỘT THOÁNG VÂN ĐƯỜNG PHỦ GIỮA LÒNG BẢO TÀNG THÀNH PHỐ…

Sáng nay tui ghé Viện bảo tàng TP.HCM trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vé vào cổng thông thường là 30 ngàn đồng, riêng người cao tuổi như tui được bớt còn 15 ngàn. Nhưng mục đích chính của chuyến đi sáng nay không phải để tham quan chung chung, mà là để tìm đến phòng trưng bày cổ vật sưu tầm của bác Hai Vương Hồng Sển.

Gian phòng rộng khoảng 50 mét vuông, được bài trí vô cùng trang nghiêm. Ngay giữa khán phòng là tấm pano lớn in hình bác Hai với mái tóc sương trắng đang cúi đầu, lật nhẹ từng trang sách cũ. Nhìn hình bác, trong lòng tui dâng lên một cảm xúc ấm áp lạ kỳ. Bên cạnh tấm hình là lời tự bạch mộc mạc của bác: “Năm tuổi, biết nhịn ăn để dành đồng xu sắc sảo... Mười chín tuổi ra trường đậu Diplôme, đã vọc vạch đồ cổ.” Cái "nghiệp" mê đồ xưa từ thuở lên năm, lên chín ấy đã đi theo bác suốt cả cuộc đời, để rồi để lại cho hậu thế một kho tàng văn hóa vô giá.

Đứng giữa không gian tĩnh lặng, ngắm nhìn những chiếc bình gốm cổ, bộ sưu tập hay những bộ bàn ghế gỗ cẩn xà cừ trầm mặc dưới ánh đèn dịu nhẹ, lòng tui chợt thoáng chút bùi ngùi. Ai yêu mến học giả Vương Hồng Sển mà không biết đến ước nguyện lúc lâm chung của bác: hiến tặng ngôi nhà cổ Vân Đường phủ cùng toàn bộ bộ sưu tập báu vật để làm một viện bảo tàng mang tên mình. Tiếc thay, vì nhiều lý do của lịch sử và cuộc sống, tâm nguyện ấy đến nay vẫn chưa vẹn tròn...

Nhưng rồi, nhìn cách những cổ vật này được nâng niu, đặt ở một nơi trang trọng ngay trung tâm mảnh đất Sài Gòn mà bác cả đời gắn bó, tui lại tự an ủi mình: Có lẽ ở nơi chín suối, bác Hai cũng đã phần nào mỉm cười yên nghỉ. 15 ngàn đồng cho một tấm vé người cao tuổi, nhưng giá trị nhận về lại là một khoảng lặng vô giá, một cuộc đối thoại đầy cảm xúc với bậc tiền nhân.

Niềm mãn nguyện ấy của tui càng được củng cố khi nhớ lại buổi tọa đàm trực tuyến nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của học giả Vương Hồng Sển (22/1/1996 - 22/1/2026) do Tạp chí Xưa & Nay phối hợp cùng các cơ quan văn hóa tổ chức cách đây không lâu. Trong buổi tọa đàm đó, tui đã được nghe những kiến nghị đầy tâm huyết từ các nhà chuyên môn: từ việc tái bản những đầu sách quý của bác Hai, tôn tạo lại ngôi nhà cổ Vân Đường phủ, cho đến việc mở rộng phòng trưng bày cổ vật khang trang hơn.

Những lời kiến nghị đó cứ vang vọng trong tâm trí tui khi đứng trước những món đồ xưa cũ sáng nay. Đó mới chính là những việc làm thiết thực, là nén tâm hương ý nghĩa nhất để tri ân một bậc tiền nhân đã sống trọn vẹn, tận hiến cả cuộc đời cho văn hóa nước nhà.

Bước ra khỏi khuôn viên bảo tàng, hòa vào dòng xe hối hả của Sài Gòn, tui thấy lòng mình nhẹ nhàng và ngập tràn hy vọng. Bởi tui tin, dòng chảy văn hóa mà bác Hai Vương Hồng Sển cả đời vun đắp, vẫn đang được người hậu thế tiếp nối và giữ lửa cho đến hôm nay...

V.Q.T

P/S: Ảnh chụp tại Viện bảo tàng TP. HCM sáng nay.

SÀI GÒN TRĂM NĂM SOI BÓNG RẠCH BẾN NGHÉ…Nhìn từ Cầu Mống của những năm đầu thế kỷ trước, rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) ...
04/06/2026

SÀI GÒN TRĂM NĂM SOI BÓNG RẠCH BẾN NGHÉ…

Nhìn từ Cầu Mống của những năm đầu thế kỷ trước, rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) hiện lên như một bức tranh thủy mặc đan dệt bằng trăm mái ghe lá và những phận người sông nước. Bên hữu ngạn là con đường Bến Vân Đồn bờ bãi hoang sơ với những dãy kho hàng đầu tiên, phía xa xăm là dáng dấp kiêu hãnh của chiếc Cầu Quay Khánh Hội thuở mới phôi thai.

Trăm năm trôi qua, khói sóng bến sông xưa nay đã nhường chỗ cho những đại lộ rực rỡ đèn hoa, nhưng cái hồn cốt 'trên bến dưới thuyền' năm nào vẫn mãi soi bóng, neo giữ một phần ký ức chẳng thể phai mờ của mảnh đất Sài Gòn - Gia Định.

***

Người Pháp gọi rạch Bến Nghé là L'Arroyo Chinois (Kênh Người Hoa) vì con rạch này là tuyến đường thủy huyết mạch dẫn trực tiếp từ sông Sài Gòn vào vùng Chợ Lớn – nơi cộng đồng người Hoa sinh sống và buôn bán vô cùng sầm uất.

Nhìn vào hình, có thể thấy độ dày đặc của các loại ghe bầu, ghe lồng và nhà bè san sát. Đây không chỉ là phương tiện vận chuyển lúa gạo, nông sản từ miền Tây lên, mà còn là "ngôi nhà di động" của bao thế hệ cư dân sông nước thời bấy giờ.

Cầu Mống do công ty vận tải hàng hải Pháp Messageries Maritimes bỏ vốn xây dựng. Điểm đặc biệt của nó là kiểu kiến trúc vòm bằng thép khuyết, một trong những cây cầu có tuổi thọ lâu đời nhất còn sót lại tại Sài Gòn hiện nay.

Người Pháp gọi là Pont des Messageries Maritimes, nhưng trong dân dã gọi là "Cầu Mống" vì hình dáng chiếc cầu cong vòng lên nhìn giống như chiếc mống cầu cầu vồng.

Phía bên phải bức ảnh chính là đường Bến Vân Đồn (thuộc Quận 4 ngày nay). Thời Pháp, các con đường dọc sông rạch thường được đặt tên bắt đầu bằng từ Quai (Bến).

Trục đường Quai de la Marine cùng với hệ thống kho bãi dọc bờ rạch (như các dãy nhà kho anh thấy ở góc trên bên phải) đóng vai trò là "vùng đệm" trung chuyển hàng hóa khổng lồ trước khi xuất đi các nước.

Nhìn lại bức ảnh, mọi người thấy sự tương phản giữa những chiếc ghe mái lá thô sơ với các công trình kiến trúc kiên cố bằng thép và bê tông của người Pháp phía xa đã phác họa rất rõ nét một giai đoạn chuyển mình lịch sử của đô thị Sài Gòn đầu thế kỷ XX.

Nếu lật lại những trang ghi chép về địa chí Nam Kỳ xưa, đặc biệt là các công trình khảo cứu của học giả Vương Hồng Sển, vùng đất Khánh Hội và rạch Bến Nghé hiện lên với rất nhiều chi tiết thú vị. Trong các ghi chép dân gian và khảo cứu địa danh, từ "Bến Nghé" được giải nghĩa theo hai thuyết phổ biến. Một thuyết cho rằng xưa kia nơi đây có nhiều cá sấu nổi lên, tiếng kêu trầm đục nghe như tiếng nghé rống (gọi là trâu nước). Thuyết khác, mang tính ngôn ngữ học, cho rằng "Bến Nghé" được biến âm từ tiếng Khmer “Kompong Kreb” (bến trâu/nghé).

Đoạn bờ sông bên phải ảnh (Bến Vân Đồn - Quận 4) vốn thuộc vùng đất Khánh Hội xưa. Nơi này từng được cụ Vương Hồng Sển miêu tả là vùng đất của những dòng người tứ xứ đổ về lập nghiệp, gắn liền với các bến tàu, kho bãi (như tổng kho Khánh Hội) và đời sống lao động bình dân nhưng vô cùng hào sảng.

Nhìn kỹ vào lòng rạch trong ⁠ảnh sẽ thấy sự đa dạng của các phương tiện đường thủy, phản ánh rõ nét văn hóa giao thương thời bấy giờ. Chiếc ghe lớn ở cận cảnh phía dưới ảnh có phần mui lợp bằng lá dừa nước xé lọn rất dày để che nắng mưa cho hàng hóa bên trong. Đây là loại ghe chở tôn, sành sứ, hoặc lúa gạo từ lục tỉnh lên.

Phía bên phải, sát bờ Bến Vân Đồn, là những ngôi nhà cắm cọc tạm bợ trên mặt nước. Cư dân ở đây thường mở các tiệm buôn bán nhỏ ngay trên ghe/bè để cung cấp nhu yếu phẩm (trà, rượu, thuốc súng, gạo, nước ngọt) cho các tàu ghe neo đậu vãng lai.

Dãy nhà có kiến trúc ô cửa vuông vắn xuất hiện ở góc trên bên phải ảnh chính là những nhà kho đầu tiên của khu vực cảng. Người Pháp khi quy hoạch cảng Sài Gòn và cảng Khánh Hội đã biến trục đường dọc sông này thành một "vành đai hậu cần" khổng lồ. Hàng hóa từ miền Tây đổ về đây sẽ được phân loại trong các kho này trước khi bốc dỡ lên tàu lớn tại cảng Nhà Rồng cách đó không xa.

Nếu phóng to góc trên bên phải, ta có thể thấp thoáng thấy bóng dáng của những cỗ xe ngựa hoặc xe kéo tay đang vận chuyển hàng hóa trên con đường đá dọc bờ kênh – phương tiện vận tải đường bộ chủ lực bên cạnh hệ thống đường thủy thời bấy giờ.

Cảnh tượng trong ⁠ảnh là một lát cắt tĩnh lặng nhưng đầy biến động. Đến những thập niên sau (giai đoạn 1950 - 1970), mật độ nhà ổ chuột và nhà sàn vách ván mọc lên dọc bờ kênh này còn dày đặc hơn nữa do áp lực di dân chiến tranh. Phải đến chiến dịch chỉnh trang đô thị lớn đầu thế kỷ XXI, toàn bộ hệ thống nhà dọc kênh mới được giải tỏa, nhường chỗ cho đại lộ Võ Văn Kiệt bên kia bờ và công viên cây xanh dọc đường Bến Vân Đồn phẳng phiêu như ngày nay.

Bức ảnh này thực sự là một "báu vật" thời gian, lưu giữ lại cái hồn cốt của một Sài Gòn thuở còn đậm chất sông nước nguyên sơ trước khi nhường chỗ cho những khối bê tông cao tầng.

V.Q.T

NỖI UẤT ỨC BÊN CỬA PHẬT: KHI “NHÂN QUẢ” BỊ LUẬN BÀN MÁY MÓC…Hôm nay ngày rằm tháng 4 - lễ Phật đản. Đây cũng là ngày cuố...
31/05/2026

NỖI UẤT ỨC BÊN CỬA PHẬT: KHI “NHÂN QUẢ” BỊ LUẬN BÀN MÁY MÓC…

Hôm nay ngày rằm tháng 4 - lễ Phật đản. Đây cũng là ngày cuối cùng của tháng 5 dương lịch.

Cứ ngày rằm là bà xã đi chùa và ăn chay, tui lại không thích ăn chay và cũng không vô chùa kể từ ngày con trai mất năm 2009… và khi tui đọc cuốn “Sài Gòn tạp pín lù” của bác hai Sển có nhắc chuyện “Tu cũng chẳng yên thân”, tui xin trích ra đây:

“Theo sự hiểu biết nông cạn của tôi, tôi tin chắc con người sanh ra đều có số kiếp riêng không ai giống ai, và số tôi là phải long đong lận đận, cây muốn đặng mà gió không ngừng, mới làm sao đây? Và rủi ro đâu khéo khiến. Lên ở chùa chưa được nửa tháng, mừng lòng vừa trút bớt ưu phiền, nâu sồng an phận, chay lạt vừa quen, tuy kinh kệ chưa thuộc nhưng với chí quyết thủng thẳng cũng sẽ học được như người ta, ở vừa yên nơi yên chỗ, bỗng bà mãi biện về thăm quê, nay trở lại chùa, bà có phận sự coi việc xuất phát và quyền hành trong chùa của bà, sau tôi rõ lại là lớn hơn ông trụ trì nhiều lắm, tôi không biết bản mặt của tôi, thuở nay ăn khách đàn ông lắm chớ, thế mà đối với mụ nầy, mặt tôi với mặt bà kỵ ở chỗ nào? Hôm tôi ra mắt, bà nhíu đôi lông mày nhìn tôi trân trân, rồi từ hôm ấy, hễ thấy mặt tôi là bả ghét cay ghét đắng, đi vô bà nguýt, đi ra bà háy, có việc chi sai bảo đến tôi là bà nặng nhẹ giằn thúc đến điều, dùng những tiếng không phải của người tu hành, toàn là lời xóc óc đâm hông. Nam mô di Phật nào tôi có dám đả động chi bà? Bà nói với mấy ỷ ban Chợ Lớn lên đây cúng chùa mà tôi nghe rõ từng tiếng một: "Cái tuổng mặt coi còn bền ngót, khéo nói chuyện gõ mõ tụng kinh, làm dâu cửa Phật, khéo bán dạng thuyền quyên, trêu ngươi bẹo chúng; Thiệt khéo thì thôi; Tôi nói đây để cho mấy ý mấy bà về ăn trầu gẫm lại coi: thét đây khi mai mà chùa nầy không khỏi trở nên nhà bảo sanh mà chớ?".

Tôi nghe mấy lời mà muốn trào máu họng; Mô Phật; Nam Mô A Di Đà Phật; Chị em cô bác nghĩ coi: đi tu thì mặc đồ dà, tưởng như vậy cũng đủ. Tu là tu lòng, tu tâm dưỡng tánh, còn việc tôi để tóc chưa thí phát là việc riêng trối kệ tôi, vì lời nguyện muốn trước thử lòng mình xem có số tu không, chớ nào tôi tiếc gì ba mớ tóc. Thế mà bà muốn tôi xẻo hai tai đâm đui hai mắt bà mới vừa lòng. Bà nói chi lời bất nhơn thất đức ấy? Tôi nhớ lần nào tôi vào liêu thầy tôi, thì ở ngoài nầy nghe tiếng bả đà ó giặc, lầm bầm lụp bụp, đụng cái nầy, khua cái kia, bốp thiên. Nghe mà lạnh xương sống; Mô Phật; Nói sợ tội với trời; Chớ bà làm, hình như bả ghen tôi cho ông Phật sống là thầy tôi đây vậy!

Nghĩ tới đây tôi lập tâm quyết chí, thề độc chuyến nầy, một phen tôi xuống núi bận nầy; tôi sẽ hung sẽ ác cho lại gan với đời mới nghe cho; Từ đó kéo mũ Quan Am che mặt, tôi ẩn nhẫn chờ thời dẫu bả tiếng chay tiếng mặn, tôi cứ nuốt giận lấp hai giả điếc, nín lì chịu trận. Có một đêm kia, trời khuya khoắt, một đám cướp từ đâu không rõ, tông cửa chánh điện, ùa vào liêu thầy tôi, lục soát và tóm thâu không chừa một món. Chúng hăm dọa mấy ông đạo chạy đôn đáo khắp nơi, biểu đem nạp thầy tôi để đền tội gì đó. Kiếm hết sức không gặp, mới chịu buồm. Cũng may đêm ấy thầy tôi xuống chợ tụng kinh cầu an cho nhà nào đó đến sáng mới về chùa nên khỏi tay chúng. Mụ mãi biện đi đâu dưới chợ cùng về với thầy tôi trước sau không lâu nên cũng thoát nạn.

Về vừa thấy tan tành đổ đạc, bả liền nổi tam bành lên, chửi đông đổng ăn cướp gì biết được đêm chùa vắng chủ, có họa là tôi đây đem đường dẫn lối, biết chỗ nào là liêu chỗ nào chứa của gì, nên mới cướp sạch bách như vậy. Bả lại buộc thầy tôi một cũng phải đuổi, hai cũng phải đuổi tôi ra khỏi chùa lập tức, bả mới để yên cho. Nói cho chí phải, thầy tôi nào nỡ nghe theo và cứ kiếm lời giả lá. Thầy tôi nói ngon nói ngọt chừng nào, bả lại trèo đèo chừng nấy, hăm nếu không, bả sẽ xuống quan thưa gởi bắt tôi cho được mới nghe. Thầy tôi thấy thế túng phải chiều, sợ bả làm tình tệ thì còn chi là thanh danh của chùa. Lúc ấy thầy tôi gọi tôi vào liêu, trao năm trăm bạc lại cho tôi, thở ra mà rằng: "Mô Phật. Đồ đệ nầy. Đồ đệ có lòng đem của cúng Bà, thôi, một tấm lòng thành Bà cũng chứng cho, lựa là phải để bạc lại làm chi. Bần tăng coi vóc đồ đệ ốm yếu lắm; vậy có đến chùa nào khác mà qui y thọ phái, nhớ cúng một đôi trăm cũng đủ che thân khỏi cực. Đồ đệ có về ở chùa nào, xứ nào, xin thương nghĩ bụng lấy, kín miệng, kẻo tiếng đời dị nghị không tốt. Mô Phật; nạn tai bất ngờ, đồ đệ khá nguôi lòng. Người đời, hoạn nạn là thử thách. Kẻ nào khóc nhiều kẻ đó sống nhiều; Đồ đệ vui lòng kín miệng che chở cho thầy thì cũng đừng chấp nhứt mụ vãi ngu xuẩn kia, coi vậy chùa nầy không có vãi ấy cũng không xong".

Thầy tôi đã nói đến thế, mỗi mỗi tôi dạ dạ vâng vâng không lời đáp lại tôi nhận năm tấm giấy xăng, lạy thầy hai lạy, xách mơ quần áo cũ, xâm xúi bước ra khỏi điện đi cho một nước! (hết trích)

***

Chuyện vô chùa của bác Hai đụng phải mụ vải ngu xuẩn ăn nói bất nhơn thất đức, bả một hai đòi đuổi bác tui không cho vô chùa… nghe ra có phần nhẹ hơn tui, vì chuyện của tui là khi con trai mất có làm lễ cúng bái siêu thoát con trai ở chùa Phước Thành - Bình Lợi, cái ông thầy trụ trì ăn nói một cách máy móc, a thành phù cho rằng đó là luật nhân quả hay gọi là nghiệp báo, ổng diễn giải đó là hệ quả của gia đình dẫn đến kết quả như vậy… tui nghe tức giận điên cả người, nếu không có nhiều người tại đó, chắc tui sẽ chỉ mặt ổng và mắng cho một trận… Kể tử hôm đó, tui thề không bao giờ bước vô nhà chùa nữa.

Bác hai Sển ngày xưa bị mụ vãi buông lời cay độc, vu oan giá họa dẫn đường cho cướp, dẫu uất ức đến mức "muốn trào máu họng" nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là chuyện tiền bạc, vật chất ngoài thân.

Còn câu chuyện của tui, nỗi đau ấy chạm đến nơi thiêng liêng và tổn thương nhất của một người làm cha: sự ra đi của đứa con thân yêu.

Vào cái ngày gia đình đang tan nát cõi lòng, cần một lời an ủi, một điểm tựa tâm linh để vong linh người quá cố được nhẹ nhàng siêu thoát, thì người đứng đầu một ngôi chùa lại buông ra những lời giáo điều, máy móc, gán ghép hai chữ "nghiệp báo" một cách tàn nhẫn, tui cho rằng cái ông sư trụ trì năm đó đã sai cả về đạo lý làm người lẫn giáo lý nhà Phật.

Cốt lõi của người tu hành là lòng Từ bi và sự Trắc ẩn. Khi một gia đình mất con, đó là nỗi đau tột cùng của nhân thế. Một người tu chân chính lúc đó phải dùng lời ái ngữ để xoa dịu, an ủi, giúp người ở lại bớt đau thương và người đi được thanh thản.

Việc ông thầy dùng lý thuyết nhân quả ra để "diễn giải", "phân tích" đúng sai ngay trong buổi lễ cúng bái không khác gì một hành động xát muối vào vết thương đang rỉ máu. Đó là sự vô cảm, thiếu tinh tế, và đi ngược lại hoàn toàn với tinh thần cứu khổ, cứu nạn.

Luật nhân quả của nhà Phật là một hệ thống cực kỳ vĩ đại, thâm sâu, trải qua vô lượng kiếp, chứ không phải là một công thức toán học giản đơn, nông cạn theo kiểu "đời cha ăn mặn đời con khát nước" như cách ông thầy kia ám chỉ. Phật giáo không xem nhân quả là một sự trừng phạt của một đấng bề trên nào cả. Việc một người thân ra đi sớm đôi khi đơn giản là vì "duyên" của họ với cõi đời này đến đó đã mãn, họ đã trả xong nợ trần ai và cần bước sang một hành trình mới.

Không một ai, ngoại trừ bậc chính đẳng chính giác (Phật), có đủ tuệ giác để nhìn thấu suốt nghiệp quả của một con người. Việc một vị thầy trụ trì tự cho mình cái quyền phán xét "đó là hệ quả của gia đình" là sự kiêu ngạo, hồ đồ và phạm vào khẩu nghiệp rất nặng.

Bác hai Sển ngày trước bị đuổi khỏi chùa thì "xách mớ quần áo cũ, xâm xúi bước ra khỏi điện đi cho một nước", rồi ẩn nhẫn nhìn đời. Tui bây giờ cũng vậy, không vào chùa không có nghĩa là mình không hướng thiện. Tu là tu lòng, tu tâm dưỡng tánh.

Bà xã đi chùa, ăn chay, đó là cái duyên và cách tìm kiếm sự bình yên cho gia đình. Còn tui nghiệm rằng ngồi ở nhà chơi một bản guitar, vẽ tranh, đọc một cuốn sách hay của tiền nhân, nhớ về con trai với tất cả tình yêu thương thuần khiết nhất, không vướng bận những lời phán xét vô minh của người đời – đó đã là một cách "tu tâm" tự tại và thanh cao.

V.Q.T

NHỚ BÁC HAI VƯƠNG HỒNG SỂN TỪ CÁI KÍ ĐẦU…“Thú chơi sách” của bác hai Vương Hồng Sển viết hồi năm 1961, nay nhà xuất bản ...
30/05/2026

NHỚ BÁC HAI VƯƠNG HỒNG SỂN TỪ CÁI KÍ ĐẦU…

“Thú chơi sách” của bác hai Vương Hồng Sển viết hồi năm 1961, nay nhà xuất bản Trẻ tái bản.

Đây là cuốn sách tui thích trong những bộ sách của bác hai vì nó gợi tui một kỷ niệm không bao giờ quên, đó là:

Năm 1974, tui học nội trú trường Huỳnh Thị Ngà ở Tân Định, mỗi tuần chủ nhật tui về nhà bác hai ở Nguyễn Thiện Thuật, Gia Định. Buổi trưa đó trời chang chang nắng, hay có tiếng ve kêu râm ran ngoài ngõ? Trong căn nhà toàn mùi gỗ mộc, mùi giấy cũ và sách cổ của bác hai, lọt thỏm một chiếc võng đong đưa. Tui trốn cái nóng, trốn thế sự bên ngoài để chìm đắm vào thế giới hiệp khách của Kim Dung, cuốn truyện “Lục mạch thần kiếm” mượn của bác, tui đang nẳm tòn ten trên võng say sưa đọc, bác tui đi ngang nhìn thấy tui đang cầm cuốn truyện một tay và sách gập lại một bên, bác liền kí đầu tui và nói: “Đọc sách phải cầm hai tay và không được gập lại như thế!”

Cái kí đầu đau điếng năm ấy, hóa ra lại là bài học vỡ lòng thiêng liêng nhất về 'đạo chơi sách' mà bác hai dạy cho tui. Bác không chỉ giữ sách cho riêng mình, bác đang dạy một đứa trẻ cách đối nhân xử thế với tri thức. Cuốn sách gập đôi lại thì gãy gáy, đau lòng người làm ra nó; cuốn sách cầm một tay thì hời hợt, thiếu cái tâm kính cẩn.

Kể ra để mọi người thấy bác hai là người mê và quí sách đến cỡ nào?

Tui xin trích một đoạn trong cuốn Thú chơi sách: “Thú chơi sách là một thú nhàn; đóng cửa tháp ngà thưởng thức chuyện cung trăng, hoặc giở trang sách tìm người trong xuân mộng. Nói như vậy cũng còn chưa đủ: nhà chơi sách chẳng những đọc mà thôi, còn mân mê cuốn sách, rờ rẫm cái bìa êm- ái vuốt ve trang giấy mịn màng, gởi hết tâm tư vào đó, một lòng gắn bó thiết tha tưởng còn hơn các phong lưu công tử thời xưa tiếp kiến nhân-tình bằng xương bằng thịt”. (trích)

Chơi sách cỡ như thế nhưng bác hai vẫn cho rằng mình chưa bằng một số người quen của bác.

Tui xin được trích tiếp trong sách:

“Trong giới người Việt biết yêu sách, tôi có quen một ông, tánh tình hiền lành nhưng rất khó đối với sách: quyển nào anh em mượn, trả về có chút hư hao, ông không nói gì, sai đem bán lấy tiền đắp thêm mua cuốn mới.

Một ông cưng sách như trứng mỏng, cắp-nắp ôm-đồm từ những quyển học trường lớn bên Pháp đến những tập hai ba xu Việt văn. Việt Minh bùng dậy, phá làng đốt sách. Tủ sách ông ra tro. Từ ấy, tóc ông càng bạc thêm, ông chuyên về tu hành, nghiên cứu Phật- giáo, những ai dỡ chuyện sách ra nói, mí mắt ông ướt hồi nào không hay.

Một ông nữa cắp-ca cắp-củm, sưu tập nhiều bộ nếu nay còn, là một kho tàng quí giá vô cùng, vì ông là nhà khảo cứu chuyên về sừ học Việt Nam, không một bộ sách nào ông không có, nào Khâm-định, nào Thật-lục, đủ cả, luôn những bộ- môn sách Pháp như bộ Đô-thành hiếu cổ, bộ Viễn-Đông Bác-cổ, kịp năm loạn lạc, lớp bị đốt, lớp Tây lấy, lớp người ta dọn, ông chỉ còn cái cười hồn nhiên của nhà học giả chơn chính, không buồn sắm nữa, cũng không hít hà!…

Thừ hỏi chừng nào xã hội chúng ta mới có hạng người biết thương sách, mê sách, biết chơi sách và trân trọng xem cuốn sách như những bạn tốt, đáng được gìn giữ lâu dài, và muốn được như thế, cần phải biết dày công săn-sóc, nhất là phải biết nương tay. Cuốn sách phải được cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Lật mạnh tay, lật bằng móng tay, lật bằng tay thấm nước miếng, gạch làm dấu trong sách bằng móng tay ghì mạnh, bẻ gãy trang sách để nhớ chỗ, mặc dầu đi Tây về, mặc dầu có bằng chuyên môn quản-thủ thư-viện, có những cử-chỉ trên kia, chưa xứng mặt là nhà chơi sách”…

Gương mấy nhà chơi sách đạo mạo, mân-mê rờ-rẵm quyển sách như tinh thần, trân-trọng quyển sách như bảo-ngọc, không bao giờ biết nặng tay hay hờ-hẵng, các gương ấy quả có thật như lời. Các bạn chớ vội cười những người ấy cớ sao quá kính nể vật vô tri: tập giấy có bút tích của một tiền-nhân hoặc tờ hoa-tiên có ấn-triện của một đế-vương cựu thời.” (trích)

***

Bây giờ, Sài Gòn – Gia Định đã thay hình đổi dạng, trường xưa lối cũ có cái còn cái mất, bác hai cũng đã về chốn 'âm cảnh lạnh lẽo' tìm mẹ từ lâu. Nhưng mỗi lần lật từng trang 'Thú chơi sách' của NXB Trẻ vừa tái bản, tui lại ngửi thấy mùi mực thơm hòa lẫn mùi hoài niệm. Tui nằm trên ghế bố, nương tay lật từng trang, lòng tự nhủ: Bác hai ơi, nhìn xuống mà xem, đứa cháu ham đọc truyện Kim Dung ngày nào giờ đang nâng niu sách bằng cả hai tay đây này... Bác có ở dưới suối vàng, chắc cũng sẽ mỉm cười xoa đầu chứ không kí đầu tui nữa đâu, bác hai heng?

V.Q.T

27/05/2026

Sài Gòn Tạp Pín Lù của nhà văn Vương Hồng Sển có câu chuyện này. Tôi Nhớ xin trích lại, mong các bạn sẽ thưởng thức mà ngẫm cho phận đắng cay của một kiều nữ thời Pháp thuộc. Mới hay "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" là có lý do...

NHỮNG GÌ ĐƯỢC BIẾT VỀ CÔ BA TRÀ…

Cô Ba Trà tức Trần Ngọc Trà, huê khôi số một ở Sài Gòn, khoảng 1920 -1935…

Trong quyến Hồi Ký 50 Năm Mê Hát xuất bản năm 1968 (Nhà xuất bản Phạm Quang Khải, 29 Yên Đổ, Sài Gòn) nơi trương 109, ông Vương viết mấy hàng như sau:

"Để thấy cái ngông cái gàn của kẻ này, xin nhắc một việc cũ, nay nhớ mà còn thẹn thẹn. Quả không có cái gì mà tôi không muốn không ham. Thậm chí, tiền không có, bề thế cũng không, mà đèo bòng nhiều việc lếu. Ngày mồng Một tháng Ba Dương lịch 1924 đi xem hát cải lương tại rạp Moderne, đường d’Espagne (Sài Gòn). Lá lay tôi được ngồi gần cô Ba Trà, lúc ấy đang sáng chói trong tiền, trong nhan sắc, và sắm xe hơi có tài xế phụ, để giành mở cửa. Cô Ba ngồi một dãy ghế thượng hạng với bản sĩ Lê Quan Trinh, ông tòa Trần Văn Tỷ và thầy Sáu Ngọ, tức Paul Daroll, "vua cờ bạc lừng danh thuở ấy". Trớ trêu thay, bên tay mặt và sát ghế cô là ghế của kẻ này. Cô ngồi xem mà mùi nước hoa làm tôi ngây ngất và khi nửa chừng cô ra về, tôi hết biết trên sân khấu hát ca những gì (1).

Cô Ba Trà vụt vụt lên như diều gặp gió, lên xe xuống ngựa mấy chục năm trường. Tôi thì một rương sách, một túi áo quần, để sau còn đùm đề thêm ba cái đồ sành cũ ưa bể và nứt rạn... Bỗng mấy chục năm sau, y như trong giấc chiêm bao, cô Ba Trà và tôi tình cờ gặp lại, nơi một sòng tài xỉu ở nhà Đại Thế Giới Chợ Lớn, sau trận phong ba 1945. Tôi thì đầu đã điểm sương, nhưng rắn rỏi phong trần già giặn. Cô thì đã mất phong độ năm nào nhưng sau khi tay bắt mặt mừng, cô hỏi nhỏ tôi, nhan sắc cô nay kém hơn trước tới bực nào. Tôi đáp tỉnh bơ: “Đối với tôi, tôi chỉ biết cô là người y như hình chụp treo trong tủ kiếng trước cửa nhà Photo Khánh Ký đường Bonard, lúc tôi còn học trường Chasseloup mà mặc trời mưa trời gió, Chúa Nhựt nào tôi cũng phải ra trường, đến ngắm tiên dung rồi mới trở về trường ăn ngủ được” và “đã khiến tôi thành thi sĩ, xin lỗi, thành thợ thơ nọ”.

Nhờ câu ấy, cô cười, hai hàm răng vẫn trắng đẹp như xưa, và cũng từ đó, cô thâu dụng tôi làm “bí thơ không nhận lương” suốt một thời gian khá lâu, khi thì nhơn danh cô, viết thơ cho bà tòa T. V. Tỷ, khi thì mượn danh bà trị bịnh trĩ Lê Minh Đường, cũng gởi thơ khẩn thiết nhắc việc cũ, tiền ân cựu ngởi, khi thì gởi cho đôi ba người khác. Thơ đi thì tôi viết, thơ trả lời thì cô nhận mà không bao giờ cho viên bí thơ này biết, nhưng có lẽ kết quả làm cho cô vừa lòng, nên tuy không trả lương nhưng thoảng cô cũng ban bố huệ ân mưa móc, đủ mát lòng đây!

Nếu tính sơ sơ theo cuốn nhựt ký hằng ngày năm 1952, tôi gặp cô những lần sau:

- Chiều Chúa Nhựt 4/5 đến 5 giờ sáng, nằm tiệm X.

- Chiều thứ Tư 14/5, chờ mãi ở viện Bảo tàng, cô hẹn mà không đến.

- Thứ Hai 19/5, 5 giờ chiều cô lại musée lấy bức đánh máy thơ viết ký L.M.Đ gởi bà Tỷ,

- Thứ Sáu 23/5, cô ghé V.B.T. nhờ đánh máy lại bức thơ riêng (…)

Sau đó, suốt bốn năm tháng, vẫn gặp thường thường trước ở sòng Đại Thế Giới, cùng với kỹ sư Phạm Kim Bảng, rồi bộ ba chạy xe vô động hút khu đất thánh nhà, nằm nghe cô vừa kéo ống ro ro vừa kể tâm sự, tỷ tê. Rồi đến lượt tôi kể vài đoạn éo le trong Tam Quốc Chí, đến một hai giờ khuya, Bảng mới lái xe đưa ai về nhà nấy, nhưng cô vẫn xuống xe góc Trần Hưng Đạo khu Hòa Bình, không cho biết nhà.

Cô thuật tiểu sử cho tôi lấy notes, vừa thấy hay hay, kế cô cho biết vì không tiền mua cơm đen, cô đã bán thiên tài liệu về cuộc đời cô cho một ông bạn nhà văn (Cố giao Trần Tấn Quốc lấy viết trong báo Tiếng Dội từ tháng 5/1952 (Dương lịch), làm 70 bài dài, lần lượt tôi sẽ ghi lại sau. Nghe vậy, tôi dửng dưng xin chép chuyện "Tiểu sử nhơi bã mía, và chỉ giữ lại cho đến hôm nay hình bóng một người tuyệt sắc từng vãi bừa bạc trăm bạc ngàn qua cửa sổ, hại sạt nghiệp không biết bao nhiêu tim can, nay không còn một xu teng "để cạo gió" và vẫn nuốt cơm trắng cơm đen kéo dài cái kiếp sống thừa, không biết cho đến ngày nào?

Cô Ba Trà Kể Lại Cuộc Đời

Dẫn: Tôi còn nhớ rành rành như chuyện vừa xảy ra hôm qua hôm kia đây, là bữa đầu tôi gặp cô Ba trong Đại Thế Giới, là lúc tôi đang đeo theo kỹ sư Phạm Kim Bảng để xin một miếng đất của đô thành, hầu như dựng lên vuông nhà hiện nay tôi đang ở. Còn cô Ba khi ấy gần như thường trực đêm nào như đêm ấy, cô vẫn có mặt tại các sòng me, để canh chừng khi thuận chiều "ké vô vài chén chạy gạo", hoặc khi nào các công tử quen xưa hết vốn, cô sẽ chuyển vận lương thảo cho các cậu gỡ gạc với điều kiện "tiền viện trợ cấp thời" này đẻ mỗi ngày là mười phần trăm số vốn, tỷ dụ cho mượn 2.000 đồng thì mỗi ngày tiền lời là 200, bạc vốn vẫn còn nguyên, khi trả phải chìa ra đủ 2.000 răng rắc. Mấy lúc sau đó, khi tôi hay được cô làm nghề mà tôi cho là quá mạo hiểm và phân tâm với cô rằng, cô "không sợ chúng giựt hay sao?", cô đã trở lời mấy tiếng cụt ngủn làm cho tôi toát mồ hôi vì quá thiết thực: "Các cậu bao giờ đi giựt tiền một con đĩ như tôi làm vầy? Tôi thuở nay đâu có ưa cờ bạc và tôi vào Đại Thế Giới hằng bữa để làm gì?”.

Nhưng như đã nói, lúc đó tôi đang theo sát kỹ sư Bảng, và Bảng là con sâu cờ bạc, khiến nên tôi gặp lại cô Ba cũng nhờ Bảng. Hai, cô Ba và tôi vẫn không xa lạ. Lúc tôi ở trọ nhà 108 đường Bonard, lối năm 1925-1926, thì cô có đến đây mỗi khi trong nhà có tổ chức "hốt me chạy". Lúc đó một bữa nọ, không biết ai đã chọt mất của tôi một sợi dây chuyền vàng đeo đồng hồ bỏ túi mà tôi để quên trên lầu. Trong khi tôi đang kiếm, cô hay được, cô thốt ra một lời bộc trực mà khi ấy tôi cho là chạm nhiều vào lòng tự ái: "Đi lấy làm chi của người ta? Người ta ăn lương một tháng không bằng mình đặt một tụ con con. Thiệt, ai đó, lấy làm chi của người ta như vậy?". Ngày nay tôi đã trên tám mươi và đã có nhà có cửa đàng hoàng, thì tôi xét ra câu nói của cô tỏ lòng thương hại hơn là khinh khi, nhưng lúc nhỏ háo thắng, "mình ước ao muốn nó mà nó đành lòng nói một câu như vậy, lúc đó tôi cho là "tổn đức" và định tâm phải làm sao cho có phương cách trả thù một phen mới nghe!". Bảng làm kỹ sư coi về đất địa đô thành, lúc đó ông đô trưởng họ Lê có hứa cho tôi một miếng đất nơi vườn Tao Đàn để cất "nhà xưa" với điều kiện khi tôi chết, nhà cho về đô thành vĩnh viễn và cuộc cắt đất cắm ranh tùy nơi Bảng, nên tôi đeo theo là vậy. Không biết hôm gặp, cô vui bực nào, mà trò truyện với tôi không ngớt. Rất may cho tôi là khiến thần khẩu thốt ra một câu "nịnh đầm" quá xá, làm cho cô xúc động tâm tình rồi keo sơn gắn bó từ đây cũng nhờ câu này. Cô hỏi nhỏ tôi, từ ngày xa nhau, sau lúc cô dự đám cưới của tôi và cô Tư Tuyết, con của bà Kính (Ông bô tôi là thông ngôn tòa Thượng thẩm, một tay chơi nức tiếng thời ấy), và sau này căn phố lầu số 260 đường Richaud (sau là đường Phan Đình Phùng) trở nên cảnh "Nguyệt tiên cung" của cô, vv. Tôi trả lời một cách rất tự nhiên cho câu cô hỏi: "Nay cô đã hương phai phấn lạt, còn săn đón cô làm gì?". Tôi khi ấy ngó ngay mặt cô và cúi đầu đáp nhỏ nhẹ: "Thưa cô Ba, tôi không cần biết cô nay ra thế nào, sa sút đến bực nào. Trong mắt tôi, trong hồn tôi, đối với tôi, cô luôn luôn vẫn là người đẹp, tôi không hiểu thành ngữ "khuynh quốc khuynh thành" là người ra thế nào, tôi chỉ biết cô qua bức ảnh chụp treo trong tủ kiếng nơi trước nhà nhiếp ảnh Khánh Ký năm xưa ở đường Bonard. Hình cô mặc một bộ y phục trắng, che cây dù cũng trắng và đứng thướt tha nhìn ngắm xa xăm, hại cho tôi Chúa Nhựt nào dầu trong túi không tiền cũng lội bộ từ trường Chasseloup ra ngắm dung nhan cho được mới nghe, mặc dầu trời mưa trời gió, và hại tôi đêm nào như đêm nấy, tiếng rằng cha mẹ cho tôi lên đây ở nội trú để sôi kinh nấu sử, mà sôi và nấu đâu không thấy, đêm nào như đêm nấy, tôi chỉ mơ mộng tưởng nhớ hình dung cô!

Lời nói không suy nghĩ mà tựa như sắp đặt trước, khiến nên gây được cảm tình. Một bữa tôi đang xỏ giày vào chưn, cô bỗng giựt mình mở mắt ngồi nhỏm dậy mà rằng: “Anh hãy yên tâm, rồi thong thả tôi sẽ kể lại đời sóng gió của tôi cho anh viết. Nói thiệt, tôi mê cảm anh nên mới làm như vậy. Nhưng tôi đã suy xét rồi. Tôi thích chị Năm diễn kịch khéo, nhứt là vai bà Phán Lợi, mẹ thằng Thân (Việt Hùng) trong tuồng Đoạn Tuyệt. Tôi đã phá gia cang biết bao nhiêu người! Tôi không muốn làm khổ cho chị Năm, anh hãy về nói lại: Tôi tha cho đó! Thôi, về hè!”.

Và nhờ vậy mà có thiên bút ký này cất kỹ suốt ba chục năm, nay xin chép lại đây, có lẽ ngày nào tôi ra đi tìm gặp cô Ba, và có gặp lại cũng chẳng chưa biết, khi ấy sẽ cho đăng báo hoặc sẽ cho in thành tập, tiếp theo tập Sài Gòn năm xưa gọi để bổ túc. Anh linh cô nếu còn, xin chứng minh lời này.

Và kể từ hàng này, là "Lời tự thuật của cô Ba Trà":

Anh từng đọc Tiếng Dội. Anh còn để dành được nguyên xấp, anh cứ dở ra xem: nơi tờ số 15/5/1952, báo ấy có in lại mấy hàng như sau, chính chữ tôi viết huếch hoác như vầy (Chữ tôi xấu lắm, vì tôi nào có được học tới nơi tới chốn!)

Chứng Chắc

"Tôi, Trần Ngọc Trà, tự Cô Ba Trà, bằng lòng cho báo Tiếng Dội đăng về cuộc đời của tôi, từ buổi thiếu thời đến nay, chính tôi thuật cho người đại diện báo Tiếng Dội nghe chuyện của tôi để đăng báo".

Sài Gòn, le 9/5/1952. Ký tên: Trần Ngọc Trà"

Như vậy tạm đủ rồi, còn tên cha mẹ và lý lịch tưởng không cần ghi lại đây, vả lại nói ra không ích gì, chỉ làm đau lòng người nơi chín suối. Năm nay 1952 gặp lại nhau, thì anh đã 48 tuổi, tôi nhỏ hơn sáu tuổi và lớn hơn bà trước, cô Tư Tuyết ba bốn tuổi, trễ rồi bất thành duyên, họa may đổi tình cầm sắt ra cầm cờ, không chừng được lâu bền hơn, làm bạn này tới đâu hay tới đó như vậy mà tốt hơn.

Anh cứ yên tâm và vui lòng cứ viết, tôi lần lượt sẽ kể anh nghe cuộc đời bảy nổi ba chìm của tôi, như ruột thiên sám hối... Tôi đã kể như vậy cho một ông không nói tên ra mà đối với anh không xa lạ gì, nhưng với đó là vì miếng cơm đen cầm thực, khác với anh là vì chút lòng cảm mến chưa phải là "tình" nhưng cũng gần gần như vậy, anh không nên ngần ngại. Không ai cướp công ai đâu, cũng như tôi có quyền thuật lại cho một người thứ ba viết nữa nào có hại gì, vì đây là bầu tâm sự, tôi vui tôi trút, mạnh ai nấy muốn hốt thì nhào vô của đồng công chợ, con tôm con cá, tranh giành nhau cái thứ "chim trời cá nước" ấy mà.

Tôi nói sơ cho anh biết: Ba tôi là người kén vợ hơn ai hết thảy. Mà nghĩ cho cùng, nói ra thì mắc tội với đức sinh thành, chớ đàn ông đều ích kỷ mười người như một, chỉ biết có mình nào biết có ai. Sáu lần chọn lựa rồi đều đường ai nấy đi, đến khi gặp má tôi người làng Tân An (Cần Đước), quên nói ba tôi là người làng Phước Khánh, thuộc quận Cần Giuộc, hai người xứng đôi vừa lứa, mới sanh ra tôi, mà sanh làm gì để gánh chịu bao nhiêu khổ cực nói ra càng thêm đau lòng, và chưa biết chừng nào mới dứt. Ban nãy tôi nói đàn ông ích kỷ, vì nhớ lại tôi nào biết ba tôi có nựng nịu tôi không, chỉ biết khi tôi được lên năm, ba tôi ghen cho má tôi không một lòng một dạ, đến thổ huyết lâm ly mà thác. Quan tài vừa liệm, nắp đậy vừa xong, còn để ngờ ngờ giữa nhà, kế ngày sau bà nội tôi, mẹ của ba tôi, vì quá thương con, bỗng chết theo, và hai cái hòm đặt song song giữa nhà mới là hệ lụy. Chôn cất vừa xong, bác trai tôi nhẫn tâm gọi mẹ tôi bồng tôi lại, rồi lột cái mũ mấn không cho tôi đội, rằng: "Ba tôi lúc lâm chung trối lại không nhìn tôi là con" và đành lòng nào bác đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà, rằng bất xứng dâu con họ Trần. Cơ khổ, có bắt được quả tang đâu mà đề án tử cho mẹ tôi, khiến cho lúc nào tôi cũng được bà nội cưng, thậm chí khi tôi biết đứng chựng, bà lấy vạt áo lót trên ván trên gạch trước khi đặt chân tôi đứng lên trên, vì sợ cát bụi sạn sỏi làm đau chơn Trà. Nay cha mất bà nội cũng nằm xuống, hai nấm mồ cỏ chưa mọc xanh, mẹ tôi bồng tôi lui về quê ngoại, phải bồng tôi không cũng khá, lại bồng theo một bụng bất mãn cành hông, và từ ấy, giận ai không biết mà mẹ tôi cứ tôi mà cho đòn, từ củi đòn củi chẻ, tôi đều nếm đủ thay vì lòng thương con con côi con cút! Chín tuổi, lớn chồng ngồng cái đầu, mẹ tôi chưa cho tôi đi học. Trẻ lối xóm chiều chiều cắp sách ở trưởng về, cười nói huyên thuyên mà tôi còn chớ: Khi mé vui thì ban bố bánh trái ăn không hết, khi khắc nổi cơn khùng thì roi vọt đấm đá gần mềm xương với một câu đả đớt mà cho đến ngày hôm nay tôi chưa hiểu cho tường tận: "Tao đánh mầy cho tiệt nòi tiệt giống quân đoản hậu! Mà ai đoản ai, có ông Trời mà biết? Ba tôi ư? Thì hãy chớ về dưới ấy sẽ hay! Mẹ tôi ư? Mà sao lại nhè tôi mà cho ăn đòn? Và oán ai mà để cho tôi chịu dốt? Thành thử tôi nay hư đốn, nào phải tội tại tôi! Thiếu tình cảm của cha, thiếu yêu thương của mẹ, thiếu hết, thiếu tất cả: không học không hành, và chỉ được một gia tài duy nhứt của trời cho là sắc đẹp! Mà đẹp làm chi để vừa mười bốn tuổi chưa biết gì, mẹ tôi đã đưa tôi vào vòng tay một quan thầy thuốc người Pháp, nói gả không xong, nói "bán" là phải hơn, và mười bốn tuổi đầu phải chịu nhiều cơn gió phũ phàng của một người dị tộc, sau nầy tôi như lá môn, nước xối bao nhiêu đều trơn trợt tuột ngoài da, cũng vì nạn tảo hôn "bán tôi cho thằng Tây có tiền chỉ mua nhục dục"! Nói chí đáng, ông này, một trai trên ba mươi, cũng có chút động lòng, cho tôi đi học nơi trường nữ chung lớp với trẻ đầu còn chứa chóp, ở lớp năm, lớp sáu, sớm chiều tụng A B C và tập đồ mấy hàng chữ quốc ngữ "Bờ a: Ba, v.v". Trong lớp học tôi có hai đứa cháu, tôi thuộc vai "dì của chúng" mà chúng nào nhìn nhận tôi là thân thuộc cũng vì tôi nghèo và sớm mồ côi cha. Ngày bà ngoại tôi mất, mẹ của mẹ tôi, thế mà trong gia đình sai người vô trường lãnh hai đứa kia về chịu tang của bà cố của chúng, còn tôi, nhớ ơn bà, khi lóng mía cho lén, khi củ khoai giấu giếm không cho các cháu trai kia biết, nhớ ơn bà, tôi phải bỏ trường mất học hay là thất học luôn từ đây và tôi phải leo rào về tới quê mẹ thì hòm đã đậy nắp, nào thấy mặt bà. Lớn lên tôi hóa ra chai đá cõi lòng, vì lúc nhỏ, ai thương cho mà biết thương lại? Những ai kia từng làm bạn với tôi, xin nhớ cho tôi điều này!

Tử tôi năm tuổi, mẹ tôi giao tôi cho bà ngoại nuôi dưỡng, đến khi tôi được chín tuổi má tôi mới nhớ rằng có một đứa con, sẵn nay bà ngoại mất, má tôi mới bắt tôi theo lên Sài Gòn. Quên nói, trong khi bỏ con cho mẹ là bà ngoại tôi săn sóc, má tôi đầu tắt mặt tối, tảo tần chạy đầu này đầu kia để sinh sống, và nói ra thêm tủi thẹn, một người còn trẻ và có nhan sắc như má tôi, mà sao nhè làm bạn, "đụng" một chủ tiệm bán á phiện ở chợ Xóm Chiếu? Đến nước trẻ đẹp mà "lấy chệt" là cùng đường! Có lẽ một duyên cớ không nói ra, là má tôi thù thâm xương người cùng một giống dòng "toàn là quân đoản hậu".

Cũng may má tôi thắng vụ kiện chia gia tài bên ba tôi được mớ nhắm, nhờ đó làm vốn liếng nên thôi ở Xóm Chiếu, đem tôi ra ở gần Chợ Bến Thành, đường d’Espagne, mà trong hẻm nhỏ mút đường gần ga xe lửa Mỹ Tho, chỗ mấy căn nhà lụp sụp phố huyện Cần, nay còn nhìn được.

Ba tôi mất được năm năm, má tôi mới về một lần viếng mộ chồng, thì lớp bị trâu bò leo ăn cỏ đạp nhầu, lớp không ai giẫy mã nên núm mồ sụt lì gần bằng mặt đất. Mười bốn tuổi, tôi vừa trổ mã con gái, chịu tang bà ngoại thì ông chồng quan ba thầy thuốc Pháp, mãn giao kèo, cút luôn về xứ không một tiếng giã từ, một đồng một chữ cũng quên cho. Khỏi ở ăn, khỏi nằm chung với chồng ngoại quốc, về nương náu với mẹ, tưởng chi, chỉ để trở lại lãnh đòn bọng như khi chưa chồng. Nhưng khỏi bỡ ngỡ lạ lùng trong vòng tay lông lá kia, bù trừ còn sướng. Lúc ở hẻm d’ Espagne, tôi đã biết làm dáng. Có người đặt biệt hiệu lúc nhỏ tôi bán chả giò, nên thỉnh thoảng tôi còn danh hiệu "Cô Ba chả giò". Sự thật má tôi bán đủ thứ hàng theo trên xe lửa chạy đường Sài Gòn ra Phan Thiết, lúc ấy đường xuyên Đông Dương chưa thông thương như hiện giờ. Tôi đã biết làm dáng, nhờ dành dụm chắt mót từ xu, từ cắc, tôi sắm được một chiếc áo bà ba xuyến đen, khi mặc lén lút má đi vắng, hai bên phố ai ai cũng trầm trồ "con chị Tám" nay đã coi được! Lúc ấy tôi thấy hạnh phúc tràn trề, là nài được một đôi guốc "ngù ngà". Ngày nay các cô tân thời đi guốc "Phi mã", guốc cao gót để dễ ẹo bên nầy ẹo bên kia cho đúng mốt, chớ mốt thời đó là guốc ngù ngà này. Nguồn gốc do các ỷ, các vợ khách giàu trong Chợ Lớn từng qua Hạ Châu và Tân Gia Ba mang về theo kiểu đàn bà Bà lai du - Malais(e), chà và, và javanais(e) - đề xướng. Guốc vẫn guốc gỗ vông cho nhẹ, không quai da hòng sợ đứt, chỉ ngại đường trơn trợt, đi guốc ngù ngà, rủi trợt té thì đau thấu mây xanh, nhưng khi mang vào chơn thấy tăng vẻ đẹp thì đau cách mấy cũng ráng chịu! Ngà này tiện trong ngà voi, càng lớn càng sang, và đi lâu năm ngà lên nước thì đẹp hết chỗ nói. Mặc áo xuyến và diện đôi guốc ngù ngà, là chờ má đi vắng hay má nghỉ, Trà lúc ấu thơ, hạnh phúc đòi hỏi có bấy nhiêu mà ai biết cho Trà?

Tôi nói nãy giờ cho anh ghi chép, mà quên nói sau khi quan ba thầy thuốc, ông chồng tạm bợ của tôi về Tây, tôi giúp mẹ tôi đỡ đần công việc chạy hàng dọn từ toa xe gánh mang về nhà hoặc theo xe ra Phan Thiết tải hàng về cho má. Đi bán trên xe lửa vui lắm. Tôi không may mắn học ở trường, mà tha hồ học trên xe, nào tiếng lóng tiếng lái, tiếng éo le, tiếng đôi ba nghĩa. "Lái dúm" là gì? Anh là thầy lái, anh biết chớ? Trà cấm anh nói xuôi lại trước mặt Trà? Và nhờ học trên xe mà Trà bỏ túi được đôi ba tiếng Hải Nam, sau này có dịp sửa lưng mấy thằng Tàu con bên Xiêm mới sướng. Trà còn nhớ anh bán bánh mì chả lụa lúc ấy. Sáng sáng, xe bắt đầu lăn bánh là anh bắt đầu bày thúng bánh mì còn nóng hổi và rổ thịt giò chả lụa chả quế đủ thứ xuống sàn xe. Chẳng lành mà chớ, anh cũng bày ra cái điếu tre hút thuốc lào lên nước láng bóng. Xe lửa chạy cà rụp cà tang nghe êm tai buồn ngủ, anh lấy thuốc nhồi vào điếu, bật lửa mồi và kéo ro ro... Anh kéo một hơi dài, rồi lơ tơ mơ ngả đầu quẹo qua một bên say thuốc mà ngủ gà ngủ vịt. Trong khi ấy bọn đá cá lăn dưa chực sẵn hồi nào, đứa rút bánh đứa ăn cắp thịt, anh vừa mở mắt thì mọi việc an bài, có ông Trời mà biết. Thiệt tài tình hết sức, chớ chi Trà học được nghề của chúng thì sau này vào sòng me, Trà không thua đậm bao giờ…

Duyên Gặp Anh Toàn

Cái ông Tây quan ba thầy thuốc tôi không nhớ! Cho đến nay, tôi gặp không biết bao nhiêu mà đếm, nhưng anh Toàn, tôi còn nhớ mãi không quên. Một buổi chiều nọ, xe Phan Thiết về, từ Hòa Hưng đã kéo còi vang rân, cho bạn hàng chợ Bến Thành biết mà đón xe lãnh hàng.

Như thường lệ, trong bộ áo bà ba "vải san đầm" đen, vắn gọn cắt khéo, may khéo và vừa vặn - giàu thì mớ bảy mớ ba - tôi chỉ có duy nhứt bộ áo bà ba nầy, áo quần bó sát căng thẳng vóc mình như con chim óc cau mùa lúa trổ - mông von von, vú tròn tròn, đùi dài, cẳng son, gói ghém như cô học trò trường Áo tím chưa nếm mùi đời, nào ai thấu hiểu năm mười bốn tuổi đã bị Tây đè. Mặt trái xoan, má hồng môi đỏ, mũi dọc dừa, chân mày đều đặn, lông mi dài luôn luôn ướt và cặp mắt ngây thơ của con chim bồ câu khát tình, vóc mình không béo có hơi gầy, không cao cũng không thấp, đi đứng khoan thai, tôi đâu có dè: Như vậy là đẹp! Đẹp là vậy đó sao? Trời ôi! Nghèo rách mùng tơi, sát giường sát chiếu, nghe rao bột khoai, tàu hũ thèm chảy nước miếng mà trong mình không có một đồng xu, bổ dưỡng ngày ngày toàn tương chao rau muống, bữa nào có dưa leo là thịnh soạn trên đời, như vậy mà đỏ da thắm thịt. Trên toa xe cũng như ở sân ga, đâu đâu cũng dừng lại nhìn ngắm, trầm trồ: Nào Tây Thi xuất thế, nào nhan sắc phi thường! Cơ khổ! Hôm ấy tôi mải lo đề phòng bọn lăn dưa, sợ bọn chúng chọt mất một món là củi tre lên đầu, tôi quên đề phòng cặp mắt thèm muốn của một thanh niên con cháu họ Bùi, đã theo tôi từ chút! Toàn, mối tình đầu, con Trú khách, cha Tàu mẹ người Qui Nhơn, sanh bốn con, Toàn là con cưng nhứt. Cha của Toàn là tỷ phú xứ Phan Rang, Toàn vô ra Sài Gòn như ăn cơm bữa, nhưng Toàn hôm ấy thần tình mê mẩn đã bị tôi thu hồn mà cho vào túi áo ngắn từ lúc xe dừng bánh! Toàn là tay ăn chơi, biết mùi gái từ tuổi dậy thì, hôm ấy Toàn gặp chị Mười Ên (Anh) hất hàm hỏi:

- Con nhà ai đó, chị Mười?

- Ba Trà, con của chị Tám ở đằng kia kìa, chớ con ai mà hỏi?

- Chị làm mai nó cho tôi đi, tôi cho chị tiền. Chị o nó cho tôi mau mau đi!

- Trời đất! Thì ít ra cậu cũng phải bắt tình với nó trước đã chớ? Cậu viết thơ tỏ tình cho thật muồi, tôi lãnh đưa cho.

Năm đó tôi đã được mười lăm tuổi mà còn khờ ịch. Bao nhiêu thơ dài thơ vắn tôi đều đem về cho má tôi không sót thơ nào.

Nhưng quả là duyên nợ, vì má tôi không giận, có lẽ bả đã hỏi thăm gia thế của Toàn rồi, cho nên chấp nhận cho anh bước tới! Và mười lăm hôm sau, là có cha mẹ Toàn, chiều ý con, dẫn Toàn vô Sài gòn làm lễ cưới. Với mười lăm tuổi đầu, tôi theo chồng ra Phan Rang, vào làm dâu cho một gia đình Tàu, ăn ở theo phong tục Tàu. Cha chồng tôi là người Hải Nam, đã có vợ chánh để lại bên Tàu, và qua đây lập nghiệp, có đến ba bà vợ lẽ. Má của Toàn, kể như chánh, ở Phan Rang, hai bà kia gìn giữ mỗi người một hiệu buôn lớn, không ai đầu phục ai, và chuyên mua bán hải vật: vi cá, khô cá mặn, bào ngư, tôm hùm ổ yến, và chi nhánh lớn đặt tại Chợ Lớn cho nên Toàn ra vô hoài hoài là vì vậy. Tôi chỉ làm dâu cho bà ở Phan Rang, và mẹ chồng tôi là người nhơn đức, đối xử với tôi rất biết điều, duy bắt buộc tôi phải ăn vận theo Tàu, - chiếc áo xẩm bó ngực lòi cánh tay càng tăng thêm vẻ đẹp: cái đẹp lộng lẫy của một phụ nữ Việt mặc áo Tàu, một nhánh hoa với nước biển thanh nhẹ hay nhờ phong thổ miền này có núi xanh tía, bãi cát phau phau hòa với nước biển xanh biếc, mà về đây nhan sắc tôi càng thêm mặn mòi, nước da càng tươi thắm, bộ đồ xẩm khi tôi ra đứng trước ngõ là mẹ chồng tôi kêu trở vô, vì khách ngoài đường đều dừng chân xì xồ: Hoa lạ nào đây, gái Tàu hay Việt?

Tội nghiệp cho thân tôi, ngây thơ dường ấy và lộng lẫy dường ấy mà kềm không nổi Toàn. Toàn được cha mẹ cưng, cho sống theo phong tục Tàu: Vợ nhà, vợ bé, mèo chuột liền liền, khi tôi khởi sự biết ghen thì Toàn càng buông lung. Một hôm tôi nổi cơn sùng, làm trận gấu ó với một nữ phạm-nhe (điều dưỡng, y tá) giữa chợ đông, Toàn đã không binh vực tôi lại tỏ ra lạnh lùng vô trách nhiệm. Toàn quả là một con ong ham hoa mới, một con bướm chuộng bông lạ bông thơm, vợ nhà cũ kỹ phải chiều ý chồng, không thì chồng cũng cứ đường trường cho ngựa chạy. Cái thí nghiệm của tôi với mụ y tá bòng chanh đó đã làm cho tôi quá thất vọng và bực quá, tôi lén trốn lên xe lửa toan về với má tôi ở Sài Gòn, nhưng nhà bên chồng hay kịp, bắt về, tuy không quở phạt đánh đập, nhưng "cấm cung" không cho tôi nơi ra khỏi cửa.

Được hai năm đầu âu yếm, đeo khít bên đít không rời nửa tấc, và khi chán chê rồi, cái thứ đàn ông bọn anh mười người như một, đều như vậy hết.

Khi ấy tôi hết muốn sống trong cảnh giam cầm như vầy, dầu không thiếu món ngon vật lạ đổi thay, khi ấy tôi lén anh Toàn, viết thơ về cho má tôi, và má tôi hay tin tôi như vầy, sốt ruột gởi thơ ra than nhớ con và quả anh Toàn trúng kế đưa tôi về Sài Gòn.

Chuyến về, tôi cho ảnh về không, tôi ở lại với má tôi, tưởng làm sao, té ra nhẹ nhàng chỉ chưa được nửa tháng, và sau đó tuy tôi đã có chồng, vẫn bổn cũ soạn lại, má tôi cho tôi hưởng nhiều trận đòn đau điếng. Và như vầy, thôi thì trở lại với anh Toàn mà còn hơn, và nhờ một chị bạn xót tình mua cho tôi một vé hạng ba, và chuyến "vinh qui" nầy tôi nếm được mùi ngon ngọt không bao giờ nếm lại là năm đồng xu dưa leo ăn nhín với đường tán, ăn trừ cơm mà sau tôi nếm lại không bao giờ ngon ngọt như thuở ấy. Nay tôi đã trải xiết bao cảnh ngộ, tôi có chút triết lý là hạnh phúc không phải ngồi trên đống vàng, hạnh phúc là năm đồng xu dưa leo khi nhớ chồng bụng đói?

Vinh qui mà không chồng đi theo, tôi lừng khừng thấy xe ngừng lật đật xuống xe tưởng đã tới nhà, chừng xe chạy tôi chạy theo không kịp, đành bơ vơ nơi ga Mường Mán, may thời gặp lại người mai mối hai năm trước là chị Mười Anh. Mừng quá, tôi được chị này đưa tôi trở lại Phan Thiết, nơi nhà một người tài phú Tàu coi chi nhánh hãng của cha chồng. Hôm sau có tin đồn tôi té giếng sau nhà hoặc tôi tự tử, sự thật tôi ra sau xách nước và trật chân, suýt bỏ mạng chốn này.

Bỗng anh Toàn lù lù ra kiếm tôi, bốn mắt nhìn nhau, tám hàng lệ thảm: Mừng của chàng trai ăn năn vì thấy vợ tiều tuỵ làm sao đổi được cái mừng của tôi khỏi ăn củi đòn của người mẹ oán đàn ông ở đoản, mà nhè đầu tôi cho nếm củi nguyên cây? Hồn mẹ có linh? Con nói làm vầy, có đúng hay không, mẹ biết!

Những công việc tôi làm buổi ấy, nay nhớ lại, đều "trật chìa": Tưởng vô Sài Gòn để mẹ khuyên can cho chồng bớt bỏ bê gia đình, té ra mẹ tôi thẳng tay phân ly cặp oan ương không cho nối cánh. Toàn về Phan Rang định ra lấy nữ trang cho tôi rồi sẽ trở vô rước vợ. Trước khi ra đi, ảnh dắt tôi ra chợ cho ăn mì, ngon quá rồi để tỏ vẻ ăn năn chuộc tội, ảnh mua cho tôi một lần đó đến mười cây lãnh đen, mặc sức cho tôi may! Và có lẽ từ đó bất ngờ tôi đã lăng-xê cái mốt y phục ngắn quần áo lãnh cắt cùng một thứ hàng, vì với nước da trắng trẻo, vóc dáng thanh lại, bộ quần lãnh áo lãnh cắt cho vừa vặn, làm tăng vẻ đẹp người phụ nữ son trẻ Việt, không mốt nào dám bì, dẫu cắt trong hàng gì quý giá cách mấy cũng thế!

Trời đất ôi! Đất bằng sóng dậy! Khi tôi vô nhà lạy mẹ xin lỗi, nhưng má tôi nhứt quyết không cho tôi trở lại với anh Toàn: "Mày còn trở lại với nó, tao giết mày!". Không phải má tôi nhẫn tâm hay ác tâm đến thế, nhưng tình mẹ thương con của má tôi biểu rằng bọn đàn ông đều vậy, và cho con trở về với chồng là để con đi trên con đường lầm lạc của mình buổi trước hay sao? Hại cho chưa khi mẹ thương con nhưng thiếu học! Báo hại nhứt cho tôi là ngày ngày ngóng trông anh Toàn trở vô, năn nỉ mẹ lại nữa, mong bả hồi tâm cho vợ chồng tôi sum hiệp, nhưng ngày qua ngày hết sớm rồi lại tối, bặt âm vô tín người thương.

Đã mười bảy tuổi đầu mà mọi việc đều trái ý, và để tránh điều cay nghiệt củi đòn củi chẻ, chỉ còn một nước bỏ nhà mẹ ra đi: "Thử xem con tạo xoay vần đến đâu".

Trong mình tôi lúc ấy có sẵn nữ trang của anh Toàn để lại gồm một đôi bông tai vàng có nhẫn hột xoàn, trị giá lúc đó chừng bốn trăm đồng, vì với 400$ lúc đó có thể mua sáu bảy lượng vàng như chơi (Vàng 60$ mỗi lượng). Còn thêm mớ áo quần mới may, bao nhiêu ấy, chưa bay nhảy còn đợi chừng nào?

Con chim sổ lồng tập bay sập sận, tôi trốn mẹ tôi hôm ấy sau khi khóc hết nước mắt, và chỗ tôi tạm trốn là nhà chị Sáu Mão, từng quen biết, trong một hẻm nhỏ đường Paul Blanchy.

Chị Mão có chồng hút, chuyên nấu cơm tháng nuôi mấy thầy chưa vợ, cảnh nhà chật hẹp ồn ào còn hơn nhà chay bội, đình đám to. Mỗi đêm đều có tổ chức một cái đám cưới "chồng giờ vợ buổi", không đám cưới thì cũng mai mối cột anh nầy với chị kia, cắn rứt cấu xé nhau sáng đêm. Tôi gởi thân vào khốn này, không khác con nai tơ trong một hang hùm đầy hổ đói!

Khốn nạn nhứt là nhè lúc nầy tôi lại đau mắt. Cũng vì nhớ và khóc nhớ chồng bặt vô âm tín. Ba xôi nhồi một chõ: Ngoài việc bếp núc, phụ chị Mão xách nước rửa chén, ngờ đâu bụng dạ đàn bà không độ được, chị Mão a ý với chồng, thấy tôi nhặm mắt, bày cách để cho anh Sáu Mão lấy lưỡi rà nụ mắt cho hết nhặm, và một đêm khuya, anh Mão không rà lưỡi lại nhè má tôi mà hôn. Tôi la lên mét chị ấy, thì tỉnh bơ: "Anh Sáu mày đã nói với tao rồi! Chịu đại cho êm!".

Thiệt là hết chỗ nói? Một lần thứ nhứt, tôi mới thấy một người đàn bà thương chồng kiểu nầy! Mà gẫm lại cũng không lạ. Phần đông gái sa ngã, cũng vì lỡ bị anh nuôi đè với sự cho phép của chị nuôi.

Bây giờ để thoát nạn rà lưỡi, vả lại mắt tôi đã bớt, chỉ còn cách sấn thân cất bước ra đi một phen nữa, tức là trốn vợ chồng chị Mão. Nghiệt nỗi, bao nhiêu vốn liếng hồi sanh tôi đều gởi cho chỉ giữ, nay hỏi, chỉ lại hăm he, doạ mét với má tôi. Hỏi nữa chị Sáu đâm liều lĩnh, rằng đồ đạc đã cầm cố mới có tiền nuôi tôi hổm rày.

Ức lòng quá, tôi chạy qua khai thiệt hết tự sự cho chị Ba là người quen ở cách chị Sáu vài căn nhà. Chị Ba mới chỉ vẽ tôi về nói lại với chị Sáu rằng Trà đã gặp mẹ và mẹ dạy nếu chị không trả mấy món đồ gởi, má tôi sẽ xuống bót thưa. Nấn ná được vài hôm sau khi xảy ra vụ "chồng hôn em nuôi mà vợ bằng lòng", đến đây kế cùng lực tận qua học với chị Ba, chị này bàn nên bỏ hết vàng xoàn, và hãy qua ở với chị Ba cho yên thân. Tôi lại còn dụ dự, hỏi: "Rồi chị Sáu ganh, thì chị làm sao đây?". Nhưng hễ con người ngay thì lời nói cũng thật, chị Ba đáp tỉnh bơ: "Còn đồ còn đạc thì chị ta mới ganh, hết đồ hết đạc, còn ganh chỗ nào?".

Nghe có lý, tôi tức thì trở về nhà chị Sáu, từ giã hết thảy, ra đi mình không qua ở tạm trú nhà chị Ba nghĩa hiệp. Nay việc đã qua lâu rồi, gẫm lại đầu dây mối nhợ tôi hư thân, cũng vì đôi bông xoàn và lòng nham hiểm của chị Sáu Mão, muốn nuốt cho trôi đôi bông và nuốt cho trơn số tiền anh Toàn cho, mà làm cho thân tôi ra cớ đỗi, lìa mẹ, xa chồng, và dấn thân vào đường trụy lạc, cũng vì tiền.

Trớ trêu nhứt là buổi sáng tôi từ giã nhà chị Sáu Mão qua ở nhà chị Ba, thì đúng buổi chiều hôm ấy, anh Toàn lót tót từ Phan Rang vào Sài Gòn tìm vợ. Phải là trời đất sắp đặt làm cho tôi hư chồng. Số là tôi có gởi thơ cho anh Toàn cho hay hiện tôi ở nhà chị Mão, nên hôm ấy anh Toàn đi ngay lại nhà chị ấy để tìm tôi.

Vừa thấy Toàn, rằng vào nhà này tìm vợ, chị Mão đóng tuồng thật khéo, và bụm mặt khóc òa: “Trời đất quỉ thần ơi! Dượng Ba (Nghe ngọt quá?) dượng vào đây đã trễ rồi! Cô Ba đau mắt tưởng đã không xong! May nhờ người khuất mặt che chở, nên nay đã bớt. Dượng tính coi vợ chồng tôi thì nghèo, thấy cổ đau, làm ngơ không đành, nên chạy thuốc chạy thầy, công lao khổ cực không kể, nay đổ nợ vợ chồng tôi phải lo cho đủ tiền ngày tiền góp, tiền đứng tiền ngồi, tính ra trên bảy trăm đồng, không biết phải làm sao đây? Thiệt là khổ quá chừng!”.

Cái khổ của vợ chồng chị Mão, làm cho anh Toàn phải lòi ra năm trăm đồng mới êm tạm tạm, nhưng Toàn nóng nảy vụt hỏi: “Mà bây giờ vợ tôi ở đâu?”. “Tôi đã đem cô ấy giấu trên kia kìa, vì sợ chị Tám bắt về đang đau thêm khốn!”. “Giấu ở đâu, chỉ cho tôi biết đặng tôi rước về Nha Trang”. “Úy! Không nên! Chưa đặng đâu! Chỗ đó khó vô lắm! Để tôi nhắn cho cô Ba đến đây cho vợ chồng gặp mặt”.

Cho hay, sự đời éo le, không ai biết được. Trông vợ, nhớ chồng, vợ chồng cách nhau trong gang tấc, cách nhau vài căn nhà, mà chỉ vì vàng xoàn và mớ áo quần chị Mão muốn nuốt cho trọn, mà đành ngăn cách vợ chồng bằng muôn dặm quan san. Dám khuyên các cô nhỏ sau nầy, trước khi bỏ nhà chồng ra đi để tìm tự do, nên suy nghĩ lại cho chín chắn trước đã!

Bây giờ mọi sự đều trễ tràng. Mối tơ mảnh giữa Toàn và Trà đã đứt, muốn nối lại làm sao được. Trái đất cứ lăn, bánh xe cứ chạy, con chim một lòng với mẹ, hiếu đễ nhịn nhục vẹn bề, con chim ấy cũng một lòng với bạn, chung tình trinh thục có đủ, nhưng dịp tốt đã qua, con chim ấy bỗng bị gió thổi lọt ra khỏi ổ và cặp cánh tự nhiên biết dùng, "tung bay như cánh hồng cánh hộc", chỉ có ông Trời mà cản! Cản làm sao được khi nước vỡ bờ! Nói theo nhà Phật, cái "căn" cái "quả" đã gieo, thì “gieo dưa hái dưa, gieo đậu hái đậu".

Sau hơn hai tháng đùm đậu nhà chị Mão, ngày tôi lìa nơi này, cô Ba Trà không khác một nạn nhơn bị đắm thuyền, của cải sạch sành sanh, còn lại chăng là nhan sắc trời dành, nhưng với mớ nhan sắc có một không hồi ấy, số vốn ai nào dám gánh?

(...) Năm 1923, tôi ra trường, chân ướt chân ráo tập ăn chơi, thì cô Ba đã là một nàng tiên trên dương thế. Từ 1923 đến 1928, tôi đổi về tòa Bố Sa Đéc, cô Ba lên như diều gặp gió, chiều chiều ngồi một mình trên chiếc ô-tô mui trần lộng lẫy, xe êm nệm tốt, áo nệm trắng tinh, trước có hai người tài xế ăn vận lộng lẫy, cổ áo một màu với y phục cô Ba mặc, trắng toàn trắng, tím nâu toàn tím nâu. Một tài xế chánh để lái xe, một tài xế phụ để mở cửa xe, Ba Trà sang trọng sánh không thua thống đốc Nam kỳ vì chỉ có ông cầm đầu xứ này mới dùng hai tài xế cho chiếc xe chánh phủ mang số hiệu đặc biệt "C.20" (Buổi ấy toàn vùng Sài Gòn, công xa chỉ có một trăm chiếc, và chiếc xe của ông Nam trường máy Rosel là số 33, hiệu Lorraine - Dietrich, trong khi xe thống đốc hiệu Delage six cylindres và cô Ba ngồi "độc chiếc" trên xe có hai chauffeur, ai nào dám ngó cô cho chán chường, chỉ vì sợ bà móc nhãn! (2)

(...)

TÔI NHỚ
--------------------------------

(1) Đây là một cách nịnh đầm: Họ nhường cô Ba ngồi sát tôi, vì như vậy cô ngó ngay lên sân khấu, thầy Sáu là anh cả nên ngồi bìa, Trinh và Tỷ là tình địch đang tranh thủ trái tim nàng đẹp

(2) Mấy năm sau, tôi gặp Ba Lưu, một bạn cố tri quen nhau từ ở Sốc Trăng, lên đứng đầu phòng cho luật sư Nguyễn Văn Lúc, rồi Đoàn Ý Lưu cho tôi hay Trà mất đã lâu, chết trong tăm tối, Đạm Tiên không khác. Tôi không có một nén hương tiễn biệt, nay có chút hương lòng, xin cô nơi chín suối nhận cho (Vương Hồng Sển - Tôi Nhớ chú thích)

Hoạt ảnh doi META AI

Address

Tp. Hcm

Telephone

+84903684799

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển:

Shortcuts

Share