Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển

Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển, TP. HCM.

BẢN THẢO THẤT LẠC VÀ CHIẾC MÁY ĐÁNH CHỮ BIẾT NÓI…Sáng nay tui vừa gặp một chuyện không thể tin nổi! Chẳng là khi đang dọ...
01/04/2026

BẢN THẢO THẤT LẠC VÀ CHIẾC MÁY ĐÁNH CHỮ BIẾT NÓI…

Sáng nay tui vừa gặp một chuyện không thể tin nổi! Chẳng là khi đang dọn dẹp lại mấy kệ sách cũ, tui tìm thấy một chiếc hộp gỗ bám đầy bụi. Mở ra thì bên trong là một tập bản thảo viết tay đã ố vàng, nhưng điều kỳ lạ nhất là nó được ký tên bởi một học giả cực kỳ nổi tiếng từ thế kỷ trước.

Tui tò mò lấy chiếc điện thoại ra dùng một ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo mới của Hội Khảo cổ quốc tế để quét thử xem thực hư thế nào. Bất ngờ thay, ngay khi camera vừa chạm vào trang giấy, ứng dụng bỗng phát ra giọng nói và hình ảnh của chính vị học giả đó!

Ông Vương Hồng Sển đang ngồi trong nhà cổ Vân Đường Phủ bắt đầu kể lại những chuyện 'thâm cung bí sử' của Sài Gòn xưa mà chưa từng có sách báo nào nhắc tới.

Kinh ngạc hơn nữa, ứng dụng còn thông báo rằng nếu tui mang tập bản thảo này đến Bảo tàng Thành phố vào đúng 9 giờ sáng mai, họ sẽ kích hoạt một công nghệ trình chiếu hologram (hình ảnh 3D) tái hiện lại toàn bộ khung cảnh thành phố những năm 1960 ngay tại chỗ để mọi người cùng xem. Họ nói đây là dự án bí mật kỷ niệm ngày di sản, chỉ những ai tìm được 'mã vật lý' là tập bản thảo này mới được vào cửa tự do...

Và điều ngạc nhiên không tưởng là ngôi nhà cổ Vân Đường phủ được phục dựng lại thành Viện bảo tàng Vương Hồng Sển…

Tui vội mừng và kể cho vợ nghe, bả hỏi:

- Thật không?

Tui cười… ngày mai là ngày 1 tháng 4 mà!

QUÁN CÀ PHÊ VỢT BA LÙ…Ba Lù có nghĩa là gì? Quán cafe vợt Ba Lù ỏ chợ Thủ Đô (chợ Phùng Hưng) rất nổi tiếng ai cũng biết...
24/03/2026

QUÁN CÀ PHÊ VỢT BA LÙ…

Ba Lù có nghĩa là gì?

Quán cafe vợt Ba Lù ỏ chợ Thủ Đô (chợ Phùng Hưng) rất nổi tiếng ai cũng biết. Nhiều khi bạn có bao giờ thắc mắc vì sao thiên hạ kêu Ba Lù không?

Ông Ba Lù tên thiệt là Lâm Thiệu Điện.

Thử tìm hiểu chữ lù trong Tiếng Việt. Huỳnh Tịnh Của trong Đại N inam Quấc Âm Tự Vị ghi chữ lù có nghĩa là cái lỗ chừa dưới đáy thùng có nút nhét, thí dụ nút lù trong thùng ướp cá làm nước mắm.

Những chữ như lù khù, lù mù thì chỉ những thứ khờ khờ, mắt nhá nhem nhìn không rõ.

Nhưng Ông Ba Lù phải kiếm chữ Quảng Đông mà giải thích, không lấy Tiếng Việt giải thích được.

Học giả Vương Hồng Sển có cuốn Sài Gòn tả pín lù. Ta phanh phui từ cái chữ này. Tả pí (pín) lù (打邊爐) dǎ biān lú là món lẩu nhúng.

Tả pín lù còn là da - bin - lo là món lẩu của người Mông Cổ.

Trong đó chữ 爐 lù nghĩa là lò lửa, tả pín lù là món thịt nhún trong nổi lẩu trên bếp lửa.

Ông Ba Lù làm nghề bán cafe vợt, quán ông lúc nào lửa khói cũng mù mit, ông lò lúc nào cũng đỏ rực, người Tàu kêu Ba Lù có nghĩa là ông ba lò lửa.

Rất đơn giản.

Người Nam Kỳ mình kêu ai mập quá xá mập là đồ phì lũ, cái chữ phì lũ này dân Nam Kỳ gọi mấy ông Tàu bán vịt quay hay chạp phô ở trần mập ú cái bụng phệ như đàn bà có chửa.

Chữ 肥佬 phì lũ là ông hay thằng mập. Chữ 佬 lũ hay lǎo là thằng.

Người Nam Kỳ kêu người mập là ù, là bự, ngoài ra còn có mập thù lù.

NGUYỄN GIA VIỆT.

𝐆𝐈Ữ 𝐓𝐈Ế𝐍𝐆 𝐌𝐈Ề𝐍 𝐍𝐀𝐌,  𝐆𝐈Ữ 𝐋𝐈𝐍𝐇 𝐇Ồ𝐍 𝐒Ô𝐍𝐆 𝐍ƯỚ𝐂…Tiếng nói là linh hồn của dân tộc. Một dân tộc còn giữ được tiếng nói riêng ...
16/03/2026

𝐆𝐈Ữ 𝐓𝐈Ế𝐍𝐆 𝐌𝐈Ề𝐍 𝐍𝐀𝐌, 𝐆𝐈Ữ 𝐋𝐈𝐍𝐇 𝐇Ồ𝐍 𝐒Ô𝐍𝐆 𝐍ƯỚ𝐂…

Tiếng nói là linh hồn của dân tộc. Một dân tộc còn giữ được tiếng nói riêng của mình thì còn giữ được ký ức, phong tục và tâm hồn của tổ tiên. Bởi vậy, khi tiếng nói bị đồng hoá, bị ép buộc phải giống nhau, thì không chỉ là chuyện ngôn ngữ mất đi vài âm sắc, mà là cả một vùng văn hoá đang dần phai nhạt.

Miền Nam Việt Nam từ bao đời nay có một tiếng nói riêng, tiếng Miền Nam mộc mạc, chân tình, phóng khoáng như chính con người ở đây. Giọng nói đó được nuôi dưỡng bởi Sông Cửu Long, bởi ruộng đồng bát ngát, bởi những câu hò trên sông nước và những lời ru của mẹ. Người Miền Nam nói chuyện nghe gần gũi như người nhà qua những câu "Ăn cơm chưa?," "Đi đâu đó?," "Vô nhà chơi.” Chỉ vài lời đơn giản mà nghe đã thấy ấm áp.

Ca dao xưa từng nhắc đến tình nghĩa của con người Miền Nam,

"Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.”

Nghe một câu ca dao thôi là đã nhìn thấy cả một thế giới sống động của miền sông nước. Trong đó có cách nói, cách suy nghĩ, và cách sống của người dân Nam Kỳ.

Thế nhưng ngày nay, trước những áp lực xen lẫn ép buộc của chánh sách thống nhứt tiếng nói, nhiều người bắt đầu lo lắng rằng tiếng Miền Nam, giọng nói từng làm nên bản sắc của cả một vùng đất rộng lớn, ngay cả trong văn học và thi ca, đang bị coi thường và chà đạp trước phong trào tiêu chuẩn của giới cầm quyền. Trong ngành truyền thông, giáo dục, hay nhiều cơ quan nhà nước, giọng nói Miền Bắc thường được coi là mục tiêu, còn các giọng nói khác chỉ được gọi là phương ngữ. Con cháu của người Miền Nam sanh ra bị ép buộc học tiếng Miền Bắc trong sách giáo khoa do những người Miền Bắc chủ xướng.

Nếu một ngày nào đó con cháu Miền Nam không còn nói “bắp” mà phải nói “ngô," không còn nói “cha” mà phải nói “bố,” không còn nói “vô” mà phải nói “vào,” thì chúng ta sẽ mất đi điều gì? Không chỉ là vài chữ, nhưng thực ra là mất cả một nếp sống, một văn hoá phong phú.

Người Việt có câu "Tre già măng mọc.” Nếu thế hệ hôm nay không giữ gìn tiếng nói của mình thì thế hệ sau sẽ không còn biết đến nó nữa. Một khi tiếng nói đã mai một thì rất khó lấy lại.

Miền Nam vốn là vùng đất của sự bao dung. Người Miền Nam từ xưa đã quen với việc đón nhận nhiều luồng văn hoá: người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm… tất cả cùng sống chung và tạo nên một vùng văn hóa phong phú. Chính vì vậy mà giọng Miền Nam cũng mang tính cởi mở, màu sắc dân tộc, mềm mại và đầy ắp tình người.

Người Miền Nam nói chuyện thường không cầu kỳ, nhưng rất chân thật. Tục ngữ ta có câu "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.” Câu nói đó nhắc chúng ta rằng dù khác nhau về giọng nói và miền, thì vẫn là anh em một nhà. Nhưng anh em một nhà không có nghĩa là phải giống nhau hoàn toàn. Một vườn bông đẹp vì nó có nhiều loại bông khác nhau. Nếu tất cả đều chỉ có một màu, một hương, thì vườn bông đó sẽ trở thành đơn điệu, tầm thường, nhàn chán. Văn hoá cũng vậy. Việt Nam đẹp vì có nhiều giọng nói: giọng Huế nhẹ nhàng, giọng Bắc trầm bổng, giọng Nam mộc mạc.

Ông bà ta dạy "Uống nước nhớ nguồn.” Nguồn của tiếng Miền Nam nằm trong lời ru của bà, trong tiếng gọi đò trên sông, trong những buổi chợ quê, trong những câu vọng cổ vang lên giữa đêm trăng. Nếu chúng ta quên đi tiếng nói ấy thì chẳng khác nào quên đi cội nguồn của mình.

Người Miền Nam cần hiểu rằng giữ giọng nói của mình không phải là chống lại ai, mà là bảo vệ di sản văn hoá của cha ông. Không ai có quyền bắt một vùng đất phải từ bỏ cách nói của mình. Bởi ngôn ngữ không phải là mệnh lịnh hành chánh, mà là hơi thở của đời sống.

Cây có cội, nước có nguồn. Tiếng Miền Nam chính là một nhánh của dòng sông tiếng Việt. Nếu chặt bỏ nhánh đó thì dòng sông cũng mất đi một phần sức sống.

Vì vậy, mỗi người Miền Nam hãy bắt đầu từ những điều rất nhỏ: nói tiếng của mình với con cháu, kể cho chúng nghe những câu ca dao, dạy chúng những thành ngữ quen thuộc như “thương người như thể thương thân,” “bầu ơi thương lấy bí cùng.” Khi những câu nói ấy còn được truyền lại thì giọng Miền Nam vẫn còn sống.

Đừng để đến một ngày nào đó, con cháu hỏi "Ngày xưa ông bà nói chuyện ra sao?” mà chúng ta chỉ còn biết tìm trong sách vở. Tiếng nói phải sống trong đời sống, trong gia đình, trong tiếng cười, trong câu chuyện mỗi ngày.

Người Miền Nam từ xưa vốn có khí phách thà chết vinh còn hơn sống nhục. Khí phách ấy không chỉ nằm trên chiến trường mà còn nằm trong việc giữ gìn bản sắc của mình.

Giữ tiếng Miền Nam không phải là giữ một giọng nói đơn thuần. Đó là giữ cả một nền văn hoá sông nước, giữ tình nghĩa của con người phương Nam, giữ ký ức của bao thế hệ đã khai phá vùng đất này. Nếu tất cả mọi người đều ý thức được điều đó, thì dù thời gian có trôi qua bao nhiêu lâu, tiếng Miền Nam vẫn sẽ vang lên giữa dòng đời, tiếp tục duy trì và lan truyền tinh thần hào sản, giản dị, ấm áp và đầy tình người, như câu nói quen thuộc của người phương Nam, "Bà con mình thương nhau mà sống.”

LÊ ĐĂNG NGÔ ĐỒNG
10/3/2026

Thấy trên facebook, họ giới thiệu Tuyển tập của bác Hai Sển, tui không thể không đăng lên trang này.“LỜI KỂ CỦA MỘT THẾ ...
12/03/2026

Thấy trên facebook, họ giới thiệu Tuyển tập của bác Hai Sển, tui không thể không đăng lên trang này.

“LỜI KỂ CỦA MỘT THẾ KỶ” QUA NGÒI BÚT VƯƠNG HỒNG SỂN…

Cuốn sách "Tuyển tập Vương Hồng Sển" là tập hợp những bài viết đặc sắc của nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng Vương Hồng Sển cung cấp một cái nhìn toàn diện và sâu sắc về lịch sử, văn hóa, và xã hội của Sài Gòn xưa qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Nội dung chính của sách :

- Nói về sự khám phá về thú chơi cổ ngoạn ,đồ cổ,thư pháp, đồ gốm:

- Sài gòn dưới thời đại Nguyễn Ánh, dưới trào Minh Mạng, những ảnh hưởng văn hóa của người Phù Nam, người Cam Bốt, và người Tàu.

- Văn hóa,phong tục của người Nam Bộ xưa.

- Những câu chuyện thú vị về cuộc sống xã hội và sự bành trướng của Thiên Chúa giáo.

- Các khảo cứu về ngôn ngữ chữ nghĩa, văn hóa truyền thống.

Điểm hấp dẫn của cuốn sách là nối viết học thuận nhưng rất sinh động, kết hớp giữa khảo cứu, ký ức cá nhân và những câu chuyện văn hóa ít người biết.Thế nền tác phẩm vừa có giá trị tư liệu vừa có giá trị văn chương và giá trị văn học.

“Tuyển Tập Vương Hồng Sển” vì thế trở thành một cuốn sách đáng đọc dành cho người yêu sách, người nghiên cứu và cả những ai muốn tìm lại nét đẹp của một thời đã qua.

Sách có giá 250k/free ship.Anh/chị đặt sách nhắn tin cho shop xin ĐỊA CHỈ+SĐT shop lên đơn ạ

NHÀ SÁCH TỊNH LIÊN

V.Q.T

Xăng tăng nhưng theo lời kêu gọi của thủ tướng tui vẫn bình tĩnh không hoảng hốt trước tình hình xăng dầu… ngồi đọc cuốn...
11/03/2026

Xăng tăng nhưng theo lời kêu gọi của thủ tướng tui vẫn bình tĩnh không hoảng hốt trước tình hình xăng dầu… ngồi đọc cuốn “Hơn nửa đời hư”, đến trang 168, mục thứ 8: Hối lộ - thấm thía thân phận của một công chức thời Tây là bác Hai Sển, tui xin trích một đoạn:

HỐI LỐ…

Hối lộ là một độc dược thâm căn cố đế, mọc gốc mọc rễ từ nhiều đời, không biết Đông có trước hay Tây có trước, duy biết đã tràn đồng, nước nào cũng có, đời nào cũng có, dây dưa thời bình như thời loạn, lúc thạnh như lúc suy…

Tôi lấy công tâm mà nói. Người đọc xin cũng lấy công tâm xét giùm:

Một đời tôi làm công chức, trước sau ba mươi bảy năm cực trần ai, ngày nay sực tỉnh thấy mình không khác một con đĩ già tuy quá tuổi nhưng còn chút này trinh bạch. Nghĩ ra hay giỏi, còn trinh làm sao được khi đã trải thân đi khách đủ mặt: Tây, Hữu, Diệm, Kỳ? Còn tệ thì nhắm cũng chưa tệ mấy, vì ngót hai mươi năm (1923-1943) ăn lương của Pháp và mười bảy năm (1947-1964) làm công nhựt nơi viện bảo tàng, tôi dám khoe chưa nhận một đồng xu hối lộ.

Nay về già, tay cầm cuốn sổ hưu bổng tỷ lệ, nhớ lại cái kiếp làm trâu ngựa đã mòn vai chai cổ hồi tưởng lại âu cũng là tiền căn hậu kiếp. Mà cũng vì hoàn cảnh bắt buộc, chạy giặc hết tiền mượn cha trở lại đút đầu vào tròng công chức để sống. Nhưng đèn nhà ai nấy sáng, chuyện chén cơm nồi gạo, nói nhiều làm chi cho tốn thêm bọt oáp.

Ăn hối lộ, không bị bắt tại trận, gọi là may mắn. Nhưng sự ô nhục tự làm hèn phẩm giá, từ trong lương tâm ẩn tàng đời đời kiếp kiếp, sống để bụng chết đem theo, làm sao gột rửa cho ra?

Không ăn hối lộ thì nhờ. Ai tra ai khảo mà hòng phanh phui, tự đắc? Chưa chắc gì khỏi ăn, vì người dâng có nhiều hình thức: - khi nhận một bao gạo thơm đầu mùa của đứa trẻ con nhà giàu đem biếu thì thầy giáo đã nhận của lễ trá hình; khi không thế từ chối - từ chối sợ mích lòng - một chục hột gà so của gia quyến người bịnh dâng ông bác sĩ, có nên gọi ông bác sĩ nhận của đút hay chăng? Một đứa trẻ khác ôm một giỏ ổi chín và chuối rục đến tặng thầy mà rằng: “MÁ TÔI SAI TÔI ĐEM CHO THẦY MỚ NÀY, VÌ Ở NHÀ HEO NÓ CŨNG KHÔNG THÈM ĂN!" (*) Theo tôi tưởng một khi heo nó không thèm ăn, thì của ấy, thầy giáo, nếu là tôi, tôi không chê vậy.

Một ông quan văn hay võ, nhận một vỏ đạn chưng trong phòng làm chiến lợi phẩm tịch thu của địch hoặc một chục bưởi dịp Tết hay một chục xoài đầu mùa, một gói trà thơm của Hương Cảng, của Đài Bắc, nhận một toa thuốc gia truyền trị bịnh no hơi, đều là nhận hối lộ cả.

Và chăng chữ "bổng" thường đeo chữ "lộc". Bổng lộc, hai chữ đi đôi. "Bổng" là tiền lương chính thức của quan lại. "Lộc" là lộc trời cho, ai được nấy hưởng. Xanh xanh trên kia là trời, mà thằng dân cũng là trời. Ý dân là ý trời, lòng dân là lòng trời, và của dân là của trời. Dân cho được phép hưởng, duy chẳng nên đòi. Chỉ khó phân biệt thế nào là cho và thế nào là ép buộc. Cả hai cách nhau có một tấm màng trinh.

Chị thơ ký con đùm đề, chồng đi lính xa, nhận một chục hộp sữa nuôi con của ông cai thầu muốn gấp lãnh tiền phát cho cu-li, nhẹ tội hơn một ông trường trai nuốt sâm yến của mấy mụ góa chồng chuyên nghề cho vay cắt cổ. Bây giờ chuyện gì đem ra nói cũng đều sợ đụng chạm. Chi bằng đem chuyện của mình, dẫu nói không ai tin, nhưng nói để hả hơi cũng tốt.

Sự thật tôi tự xét lấy tôi, cũng không hay gì hơn ai và có phần cũng giống như ai: bụng vẫn ghét hồi lộ, - ai mà không ghét? - Nhưng nếu có cách dâng nhã, gói ghém, không đến lộ liễu, ai chớ tôi ắt khó chối từ. Ghét bởi đó là việc xấu, người đang đào thải; còn ưa là vì ai cũng đều có tánh hám tiền. Đừng làm như ông kia, bình sanh không lấy một cây kim gút hay một cây viết chì trong sở, nhưng khi gần chết, Thống đốc Nam Kỳ đến viếng hứa cung cấp cho ba chục mẫu lương điền trong Chợ Lớn, ông cười nhắm mắt đi xuôi. (*)

Trước khi chê bai việc người làm, hãy tự xét mình có thật quá trong sạch không trước đã, nếu thật sạch muốn phỉ nhổ vào người thì mặc. Bằng như vẫn cũng là bọn ăn của dân, miễn đừng đục khoét là được rồi. Đứa rủi bị bắt thì ngồi tù bị chế giễu. Đứa may chưa bị thì ngồi nhà nghí ngố, cười ruồi, thế thôi!

Phần tôi, đến tuổi hưu mà chưa táp được, tôi không cho là hay. Tôi hư trong bụng tôi biết. Có lẽ tại kiếp tôi là con đĩ làm cao, đòi quá mắc nên không ai thèm kêu đi khách. Bộ mặt của tôi buổi đó, tôi nhớ lại, không khác mặt gái giang hồ làm dáng, kịp đến già, chữ trinh còn đây là vì xấu xí không ai thèm. Cho ít sợ tôi la, cho nhiều thì người ta tiếc.

VƯƠNG HỒNG SỀN (trích “Hơn nửa đời hư”)

V.Q.T

(*) Lời cha mẹ ở nhà bàn riêng rủi đứa trẻ nghe được, nay học y với thầy.

(*) Ông đốc phủ Tùng.

Đọc cuốn “Tả quân Lê và tuồng San hậu” của bác hai Sển, mới thấy bác là người mê và quí trọng sách thuộc loại hiếm…Tui x...
22/02/2026

Đọc cuốn “Tả quân Lê và tuồng San hậu” của bác hai Sển, mới thấy bác là người mê và quí trọng sách thuộc loại hiếm…

Tui xin trích đoạn ở trang 168:

THƠ ĐI SỨ…

Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (Hà Nội) có in năm 1993 một cuốn sách giấy trắng tốt, dày 526 trang, do Phạm Thiều, Đào Phương Bình soạn, mà giá bán thật nới (36.000 đồng) và chỉ in 300 cuốn. Tôi may thời hay được nên tuy không dư dả tiền tài, mà lần hồi tôi đã mua đến bốn cuốn, vì theo tôi, giữ niềm vui về thú chơi sách, nếu biếu người nào một số tiền tỷ như 50 hay 100 ngàn, làm sao có giá trị bằng quyển sách nầy chỉ xuất bản có vỏn vẹn 300 cuốn, nhưng tên của giáo sư quá cố Phạm Thiều thì phải biết.

Khi tôi đọc cuốn sách, tôi mới sáng con mắt thật nhiều và những điều sai lầm của tôi từ trước đến nay, tôi xin đăng tải ra đây vừa sám hối, vừa xin đính chính:

a) Bấy lâu tôi đã chê ông Lê Quang Định không trả lời câu vặn họng của triều đình nhà Thanh bên Trung Quốc, hỏi tại sao đã dùng chữ "Long" của tiên đế Kiền Long ráp với chữ "Gia" của vua Thanh đang thời Gia Khánh mà đặt tên Gia Long? Hỏi tại sao viết Nam Việt, v.v…

Trong sách trước (bộ Hiếu cổ đặc san) tôi đã trách Lê Quang Định không trả lời được và nay tôi xin cải chính ông Lê Quang Định vẫn đi sứ với một mục đích khác và nay trong cuốn Thơ đi sứ nầy tôi mới gặp lại Nguyễn Gia Cát trong sứ bộ Trịnh Hoài Đức năm 1802, Gia Cát thủ vai phó sứ, mà tại sao trong cuốn Thơ đi sứ trang 313, có câu: "Sau khi về, ông (Gia Cát) bị cách chức"? Vì tội gì sách không nói, và khiến tôi tức tối vì tuy tôi học kém nhưng năm xưa nhơn lần mò trong sách báo cũ, tôi đã gặp và chép y lại trong cuốn Khảo về đồ sứ men lam Huế (nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh) đã in và bán, và tôi đây là soạn giả. (Tôi không làm quảng cáo cho tôi đâu!)

Trương 171 sách đã dẫn (Khảo về đồ sứ men lam Huế) có viết (nay đăng nguyên văn):

"Nguyên văn chữ Hán của đoạn này, phiên âm ra Quốc ngữ là:

Nguyễn Gia Cát (*)Vân Giang Hoa Cầu nhân, Chiêu Thống Đinh Vị (*) chế khoa (*) xuất thân. Công đăng đệ tài nguyệt, Lê đế bá thiên, Gia Long tứ niên trạc tụng. Công phụng mịnh Bắc sứ cầu phong, Thanh nhân cật viết: "Quốc vương niên hiệu Gia Long, vô nãi thái dụng Gia Khánh (*), Kiền Long (*) nhị hiệu?" Công đối viết: "Ngã quốc Trần Lê (*) dĩ tiền, Nam Bắc phân trị, kim ngã quốc vương khi ư Gia Định (*) thành ư Thăng Long (*), cố hiệu Gia Long (*), phi cảm mạn giả."

Sứ hồi, thăng Lễ bộ tham tri."

Đến đoạn nầy tôi xin hỏi: theo tài liệu tôi gặp trong tập kỷ yếu hội Khai Trí năm xưa thì Nguyễn Gia Cát khi đi sứ về được thăng chức "Lễ bộ tham tri" (tr.172 của tôi) còn trong Thơ đi sứ (trương 313) thì Gia Cát bị cách chức nhưng không nói rõ vì tội gì. Trả lời thông suốt mà bị mất chức, hai sách đều nói khác, tôi biết tin sách nào?

Tiếp theo đây tôi xin chép luôn những gì tôi đã nói trong tập Khảo về đồ sứ men lam Huế nói theo câu của Gia Cát.

Bổ túc ghi trong Khảo về đồ sứ men lam Huế, có hai đoạn sau đây bổ túc và so sánh với đoạn đã kể.

"Nam Hải dị nhân.

1) Hai sứ bộ Việt Nam gặp nhau trên đất Trung Hoa:

"Năm Tân Dậu (1801) tháng năm, Trịnh Hoài Đức được thăng làm Hộ bộ thượng thơ (Nguyễn triều ta có lục bộ thượng thơ bắt đầu từ đây), sung chức chánh sứ, cùng với Binh bộ tham tri Ngô Nhơn Tĩnh, Hình bộ tham tri, Hoàng Ngọc Uẩn, sang sứ nhà Thanh, đệ tờ quốc thơ, phẩm vật và đem nộp cả ấn sách của Tàu phong cho Tây Sơn, cùng giải nộp lũ tướng giặc bể là Đông Hải Vương Mạc Quan Phù, Thống binh Lương Văn Canh, Lương Văn Tài. Tháng bảy mới sang đến Hổ Môn quan, quan Tổng đốc Lưỡng Quảng là Giác La Cát Khánh, tâu lên vua Tàu, vua Tàu truyền dụ cho đưa sứ bộ đến Quảng Tây, rồi vào Bắc Kinh. Khi ấy đức Thế Tổ vừa ra bình định xong Bắc Hà lại sai Binh bộ thượng thơ Lê Quang Định sang sứ cầu phong. Bọn sứ bộ Trịnh Hoài Đức còn đợi ở Quảng Tây, tháng tư năm Gia Long thứ hai, cả hai bọn sứ bộ cùng tự Quảng Tây đi thuyền qua Hồ Bắc đến Hán Khẩu, rồi lên bộ qua Vạn Lý Trường Thành, qua cửa Cổ Bắc, tháng tám đến sông Nhiệt Hà (thuộc Măn Châu), các sứ bộ đời nhà Lê Gia Khánh ở nơi hành tại rồi lại cùng với sứ Tàu sang tuyên phong là Án sát Quảng Tây Tề Bố Sâm, từ cửa Nam Quan trở về nước"

(trích Nam Hải dị nhân liệt truyện, Phan Kế Bính, bản lần thứ 3 in năm 1924 Hà Nội, trương 45)

VƯƠNG HỒNG SỂN (trích cuốn “TẢ QUÂN LÊ VÀ TUỔNG SAN HẬU”)

Chú thích: (*)

1. Tỉnh Kinh Bắc, nay là tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc) quê hương của Nguyễn Gia Cát
2. Năm 1787 Tây Lịch
3. Chế khoa là khoa thi bất kỳ đặt ra, khi đỗ cũng giá trị như hàng đại khoa, duy chỉ có chọn đầu bài là khác mà chấm quyền thì cũng có khi tự vua thân hành
4. Năm 1805
5. Vua Gia Khánh trị vì từ năm 1796 đến năm 1820 triểu nhà Thanh
6. Vua Kiền Long trị vì từ năm 1736 đến năm 1795 triểu Thanh
7. Đời Trần, đời Lê từ 1225 đến 1789
8. Gia Định, tỉnh đầu trong Nam Kỳ, tỉnh ly tức là Sài Gòn
9. Nguyên tức là Thăng Long của vua Thái Tổ nhà Lý đặt ra năm đầu là Thuận Thiên (1010) đến vua Gia Long mới đổi tức là Hà Nội
10. Cộng 18 năm, từ 1802 đến 1819 (chú thích của Trần Hàm Tấn)

Mồng 2 Tết, ngồi đọc cuốn “Dỡ Mắm” của bác hai Sển, ngẫm lại mới thấy thời nào cũng vậy, quan tốt xấu đều có cả… tui xin...
18/02/2026

Mồng 2 Tết, ngồi đọc cuốn “Dỡ Mắm” của bác hai Sển, ngẫm lại mới thấy thời nào cũng vậy, quan tốt xấu đều có cả… tui xin trích đoạn từ cuốn sách này và mở đầu câu thơ:

“Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra
Mắm ông thì thúi, mắm bà không thơm”
(câu hát cũ)

THỜI SUY QUỈ LỘNG…
(cách làm việc của mấy ông quan Tây thời Pháp thuộc)

Thế gian thường nói: "Đoạt thành thâu ải thì dễ, thủ thành giữ ải mới là khó!" Quả thật như vậy, suốt tám mươi ngoài năm chiếm Đông-Dương, người Pháp chỉ lo mạnh ai nấy hốt, làm giàu cho mau để lui về xứ thụ hưởng, quên việc bồi-đắp mở mang thuộc-địa, hoặc nói cho đúng, chỉ mở mang một cách ích kỷ, cho nên bao nhiêu thế-hệ quan lại kế-tiếp, chỉ suy-bại và hư-đốn, lần hồi đi đến suy-vong...

… Quan cai-trị trong Nam mà tôi được biết, toàn không thể “bốc thơm” được.

- Một ông làm cai-trị từng ngồi ở Sa-Đéc, Vĩnh Long rồi Bạc-Liêu, tên Petit, tánh tình rất xứng với tên đặt, vừa tiểu-tăm nhỏ nhen, vừa hoành-hành phách-lối.

- Một ông khác tên Brière de l'Île, có lẽ là hậu-duệ của một tướng thuở qua đây chiếm nước ta, cũng cùng một tên như vậy, quan cai-trị nầy da ngăm ngăm đen, hình như dân cù-lao thuộc-địa La Réunion, hơn là đúng người "mẫu-quốc" da trắng, vẫn ham của hối và thường để bọn quan-lại nịnh bợ thao-túng, miễn biết dâng của lễ thì làm chi thì làm...

Trong số tham-biện ở Miền Nam, vẫn có người tốt và có lương tâm, nhưng đó là số ít (Pech, có ngồi tỉnh Sa-đéc), Krautheimer, ngồi tỉnh Bạc-liêu, sau lên làm thống-đốc Nam-kỳ, rồi qua thống-đốc Pagès, hoành-hành và ham gái, nay còn tiếng nhơ với một nữ bác-sĩ, người Nam, chuyên nghề phá thai đến nỗi bị lôi ra xử đại-hình, nhục nhã. Điển hình nhứt là vụ thi-cử như sau:

Thi lên nhứt hạng tham-biện (administrateur de
première classe)

Ngạch tham-biện hạng nhất-phẩm nầy rất hiếm, vì về sau có thể lên đến khâm-sứ (résident supérieur), hoặc thống-đốc ở Nam-kỳ (gouverneur de la Cochinchine). Tôi nay không nhớ rõ điều-lệ ra sao, và mấy trang nầy chẳng qua để nhắc một việc từng nghe buổi trước. Viết toàn vô ác-ý, và xin để độc-giả muốn hiểu sao thì hiểu lấy. Trước tiên, phải nói, kỳ thi nầy có một lần đó thôi, và muốn hiểu rõ ngọn ngành, cần phải biết vị trí chỗ thi, người thi, và giám-khảo kỳ thi ấy.

Chỉ có một thí-viên (hay thí-sinh duy nhứt) và để tránh tiếng, tôi không biên lại danh tánh Pháp, chỉ gọi tên dịch ra tiếng ta, nghe rất nên thơ là Mộng-Huê-Lầu, và gọi tắt là "Mộng-Lầu" thị giả.

Mộng-Lầu, nguyên đã làm "chủ tỉnh Gia-định" nhưng hạt nầy là chỗ trọng, phải đúng là "nhứt hạng tham-biện" nhậm chức, mới khỏi dị-nghị và tranh giành. Chánh-phủ lúc đó rất khéo, nên bày ra cuộc thi, sinh viên dự thi chỉ một người một, và để tránh tiếng gièm-pha, "che mắt thế-gian", , nên chỉ định chỗ thi là phòng cơ-mật-viện đặt dưới lầu dinh Phó-soái (sau đổi gọi Dinh Gia-Long), phòng nầy rộng lớn, bàn ghế lộng-lẫy, đặc biệt là dựa sát bên phòng, có một đường cầu hành-lang (corridor) thoải mái, cuối đường có một buồng tiêu (cabinet d'aisance) là nơi sẽ diễn ra cuộc "che mắt thánh" sẽ thuật sau nầy.

Thí sinh, tuy có một Mộng-Lầu, nhưng giám-thị, canh chừng cuộc thi, chỉ định đến bốn người, toàn là quan cai-trị đồng một hạng với sinh-viên, tức theo mặt luật, một mũi kim qua không lọt, thế mà vẫn có sự trao bài đổi văn, mới là lạ cho.

Đầu đề để trong bì thơ, có gắn khằng đỏ cẩn-mật, từ Toàn-quyền-phủ Hà-nội gởi vào. Hạn chế bài làm trong tám giờ, mở đầu là 8 giờ ban mai, hẹn 16 giờ, tức 4 giờ chiều sẽ góp bài, tan cuộc thi. Tôi xin tóm tắt:

Đầu đề được cho biết, xong rồi, bốn ông giám thị chia nhau ngồi bốn góc, bao vây thí-sinh ở giữa, ông phi-phà điếu thuốc, ông ngưa mặt xem ruồi bay, xem cánh quạt quay vù vù, đinh-ninh "công bằng, chính trực, vô tư" vẹn đủ. Nhưng nửa giờ sau khi khai cuộc, Mộng-Lầu búng ray ra dấu xin được đi cầu, giải thoát, tiểu-tiện. Việc ấy là việc quá thường, nên chánh giám-thị ra lịnh cho một ông đưa Mộng-Lầu qua dãy hành-lang, Mộng-Lầu bước vô cầu, ông đứng ngoài gác cửa. Năm phút sau, họ Mộng bước ra, trở lại phòng lớn ngồi viết bài, huếch-hoác viết chi không hiểu, độ hai giờ sau lại xin phép đi cầu nữa và phen nầy, chánh giám-thị lại sai ông khác đưa đi, cho khỏi có sự thông đồng. Phen nầy, Mộng-Lầu trở vô là viết thoăn-thoắt như "rồng bay phụng múa", chưa đến giờ kết cuộc, Mộng-Lầu đã nạp bài, miệng ngậm thuốc, vừa cười miếng chi, chào các bạn ra về, và một ít lâu sau, có công-điện từ Hà-nội đánh vào, Mộng-Lầu đậu cao, bài làm vừa hay vừa khéo. Thế là Mộng-Lầu được bổ-nhiệm thực-thọ chủ-tỉnh Gia-định với tân-chức "administrateur de lère classe" không ai tròm trèm được lời nào. Sự thật, khi vô phòng tiếu lần đầu, Mộng-Lầu đặt đầu đề trên nắp bình chứa nước giội cầu xí, rồi bước ra, giây lát có một tùy-phái cấn-tín vô lấy đầu đề ấy lên nạp trên văn-phòng, cầu nầy là nơi công-cộng, nên không một ai nghi ngờ, có người chuyên-môn thảo bài xong, giao lại một tùy-phái tin-cậy khác đem để y chỗ ban nãy, Mộng-Lầu chờ xong vô lấy ra chép lại, việc cẩn-mật có "ông trời mà biết", ngoài đương-sự Mộng Lầu và hai tùy-phái, sau thảy đều được lên lon "vệ-úy", "chánh-quản", khỏi nói tiền bạc và mề-đạy không thiếu, nhưng "thiên cơ nào rồi sau cũng lậu"., nên có bài nầy.

Ấy đời Pháp-thuộc, phần lớn là vậy, tôi không nói xấu, chỉ ghi lại cho biết: "huyện ăn theo huyện, phủ ăn theo phủ", ông chánh ăn theo bực ông chánh, nơi tòa-bố Sa-đéc năm xưa nghe nhắc lại có một tham-biện bụng to, tên Bê-na (Bénard), nhà hay dinh ở ngang kinh chợ, ông ta dám đặt một tam-bản có một lính chèo túc trực, "ai muốn qua lo việc với quan lớn"' cứ xuống, ghe, có lính chèo đưa sang kinh lo-lót với quan trên thì chắc được việc trăm phần trăm. Quan nào thanh-liêm không nhận của hối, thì bọn làm việc nơi tòa-bố có cách "xỏ mũi" lối khác, hoặc mấy xâu nem ngon, hoặc chiên chả giò, hoặc giả cách đi săn, lén đưa vào dinh, nguyên một đùi nai tơ "của mua ngoài chợ"! Một hối-lộ kiểu mới là xin "hầu một bàn tơ-nít" với thượng-quan, tìm cách đưa quả banh ngay vào vợt quan, quan mừng tưởng mình chơi được tiến-phát, quên rằng thằng nịnh khéo tâng bốc ông bằng lối "bợ banh" và kể về không thơm thì thà "bợ đít bà lớn" còn nhờ được chút "hương thừa" ", bà lỡ trên tay, cũng khen vồ "có bộ tiêu-hóa tốt"!

Đi thi có nhiều cách để dễ đậu, "đánh phép" tiền, mua đầu-đề, biết bài trước, dặn dò nhau trước rồi sẽ hạch miệng sau, v.v... chỉ vì ngu không đánh phép và cứ tưởng "công-lý vẫn còn" thì già đời làm tớ. Ngày xưa hơn nữa, khi người Pháp chưa đem đàn bà của họ qua đây, lại có thứ hối-lộ đê-tiện và nhục nhã là đưa vợ làm "mỹ-nhơn-kế", kế ấy nay còn lại danh-từ "bằng-cấp da", ít người biết, ít người xài, đích thị văn bằng xưa thường viết trên da thú, gọi
"parchemin", chữ còn ràng-rạng.

Khi tranh cử bằng lá phiếu bỏ vào thùng thăm, ngày xưa ở Lục-tỉnh có cách dò xét không sót một mặt nào, là lá phiếu vẫn chữ viết tay của quan chủ-tỉnh, tỉnh có mấy cử tri tin-nhờ được, thì chủ-tỉnh phát cho mấy lá, những lá ấy rơi vào thùng thăm là biết kẻ kia giữ lời, hoặc tỷ dụ như bầu cử nghị-viên Hạ-nghị-viện Pháp (député), bọn Tây gốc Chà, được phục rượu say mèm và nhốt trước nơi nào đó, cho ăn và sắm áo quần, ban tiền bạc đầy đủ rồi rạng ngày lùa như bầy bò đi bỏ phiếu, đứa hứa được làm gác khám, đứa góp thuế chợ, đứa khác phát thơ, vân vân, mãn cuộc bầu cử rồi, vẫn thất nghiệp như cũ, vì lời hứa ít đi đôi với việc làm. Bởi mải lo thủ lợi gần mà quên lo xa, và xã hội nào như xã hội nấy, đều là "tái diễn tuồng cũ", và "hãy chờ hồi sau phân giải".

(ngày 2-8-1983)

VƯƠNG HỒNG SỂN trích “DỠ MẮM”

CỤ VƯƠNG HỒNG SỂN KHUYÊN CÁC BẠN NHỎ HỌC TẬP CHƠI SÁCH, CHƠI ĐỒ CỔ… ĐỪNG THAMBên Trung Quốc, dân Tàu thờ Nhạc Phi vì tru...
08/02/2026

CỤ VƯƠNG HỒNG SỂN KHUYÊN CÁC BẠN NHỎ HỌC TẬP CHƠI SÁCH, CHƠI ĐỒ CỔ… ĐỪNG THAM

Bên Trung Quốc, dân Tàu thờ Nhạc Phi vì trung nghĩa, không ai thờ Cao Tông hoàng đế nhà Tống, tuy ông nầy là chúa của ông kia.

Đức Gia Long, đức Minh Mạng, v.v. có lăng đẹp nhưng không ai làm đình làm miễu để thờ làm thần. Trong khi ấy Tả quân là hạ thần của hai ông kia, lại được dân chúng ở đây ngưỡng mộ và trở nên thần để thờ phụng đốt nhang cúi lạy cho hưởng ngàn năm hương khói. Hách xấc như ông phế đế Thành Thái khi bị truất và đày vô đây, một hôm vào yết miếu Tả quân ở đây, đã tuyên bố: "Nó lạy ta, chớ ta nào lạy nó!" Đành rằng như vậy vì trước sau gì ông vẫn nên để cho dân giữ lễ coi ông là vua là chúa, được quyền chờ người khác lạy. Nhưng tưởng nên để bụng, phán làm chi lời nói cho tôi đây dám hỗn dám phê bình. Tả quân, bề tôi, đã thành thần. Nay ông đã nằm và được về nằm đất Huế, tôi xin cầu chúc mộ chí có người thường viếng kính.

Nay tôi xin có mấy hàng sơ lược nói về đồ xưa đồ cổ đất.

Nam Kỳ. Từ ngày xảy ra giặc Khôi, kế gặp giặc Pháp qua đây lấy nước nầy làm thuộc địa bao nhiêu đồ cổ ngoạn, lớp bị vua Minh Mạng cho lính và quan vơ vét, lớp bị cướp bóc, bị đập phá, hoặc chở ra khỏi xứ, tôi dám nói không còn sót mống nào. Ông Tả quân là thần ủng hộ của chúng tôi, có số làm thành hoàng mà mấy phen bị đánh trượng trên mồ, bị xiềng núm mả bị... gần đây bị người ta hốt sạch trong miễu nào tủ sắt nào bạc ký quĩ nhà băng, chén bát lư hương cây trầm hương to tổ bố trên hương án, hàng rào sắt cây cảnh, thảy thảy đều còn lại ba chữ sạch sành sanh.

Chính kẻ hèn viết bài nầy đã mục kích và hết hồn, một cây dầu gốc ba người ôm không giáp, bị một gió trốt lật qua lật lại gãy ngọn, bẻ lọi rồi bị đốn, là điềm báo trước việc sự cố qua năm 1975 mới hiểu, rồi sau năm Giải phóng, cây dầu đối diện bên tả Lăng Ông, vì nhánh khô rớt, một trẻ nhỏ đứng dưới gốc vong mạng, dầu cố cựu nầy cũng bị cho hạ luôn đủ cặp.

Mồng một Tết Ất Mão 11-2-1975 tôi nao núng nhờ bà xã đi thế, xin cây xâm nơi Lăng, xâm số 26. Tướng quân linh sám, nguyên văn:

"Cấp tẩu, cấp tẩu, cấp cấp tẩu
Tẩu đông tẩu tây, khước hồi thủ
Nhứt nương tam tử bản hồi tâm,
Trực ngôn nội hữu đa nhơn khẩu"

Lá xâm tôi còn giữ, tin ở lòng nhưng tôi không chạy, tôi không chép lời giải ra đây, độc giả xem bốn câu trên đây rồi mặc ai hiểu sao thì hiểu lấy, tôi quyết ở lại đây dưới sự che chở, dưới ba chữ:

TỰ DO, ĐỘC LẬP, HẠNH PHÚC

Cả ba đều ứng hiện, tôi nay được 93 tuổi, "vali" dọn sẵn chờ tới số thì ra đi, những lo buồn việc nhà, mất mát đồ cổ như bù mắt cắn sừng trâu, tôi ngưng đánh máy vì mỏi tay tôi viết tay bài nầy, tôi còn muốn gì nữa? Sớm biết tự túc là hơn.

Từ nơi nhau rún Sốc Trăng (Sốc có mũ dấu ớ) Sóc viết theo nay Sóc Trăng, tôi xin hỏi ngày vọng là ngày rằm trăng tỏ, chớ Sóc là mồng một làm gì có trăng?

Từ Srock Khleng tôi chạy lên Gia Định nầy rồi dính gốc có nhà, trải qua Cần Thơ Năm Lửa, lên trên nầy, Bảy Viễn chạy, để lại một sập quí phi sàng, Mai Hữu Xuân giám đốc mật thám cho bán phát mãi, sàng quí lọt về tôi làm chủ (tôi sẽ viết tả nơi đoạn sau), tóm tắt lại khi sóng thần, typhon (tài phóng) mấy cơn lốc mấy cơn trốt đã qua, lại thấy rượu làm hư việc chớ chén trà trong ấm Mạnh Thần thật cau, trốt nọ đã qua, chén trà rót ra lại thấy thơm hơn trước, tiền túi tuy đã cạn, đồng bạc thành giấy nhẹ xều, tôi không phiền, không oán, người nhỏ xúc phạm tôi biết nhịn, duy người trên trước, lớn hơn tôi xin để cho tôi ở yên chờ giờ... Tôi dám khuyên các bạn nhỏ học tập chơi sách chơi đồ cổ như tôi, xin nhớ đừng tham, đừng táp bậy, táp là hạm và con hổ vì miệng hôi nên khi hét gục đầu và "cà um" nghe dội rừng, "tham thì thâm", đừng ham có nhiều, đừng bán Phật gỗ có ngày vào khám, bị tịch bị thu,... Tôi an phận thủ thường bởi không lãnh ba tăng (patente) nên không bị hốt, tôi nay không tu nhưng giỏi nhịn và quên hết sự đời, rau muống thay bo bo, rau vi như rau muống, nhưng đời nầy Bá Di, Thúc Tề khó gặp.

Tôi ba lăng nhăng, ba xi tú, cà lơ háp nắng triết lý vô duyên và xin trở lại nói về Khôi vẫn hữu tài riêng vừa có võ có văn, có người vào Nam chửi hỗn gọi các thần ở đây
"thằng nầy thằng kia", tôi nghe mà không dám cho ý kiến, dùng thì giờ để viết ra sau những gì còn ấm ức trong lòng nhưng nay gần xuống lỗ phải nói, nói để quên đời là phù du và xin đừng tiếc hối, khi chết cũng hoàn tay trắng!

VƯƠNG HÒING SỂN (8-6-1994)
trích “TẢ QUÂN LÊ VÀ TUỒNG SAN HẬU”

Address

Tp. Hcm

Telephone

+84903684799

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển:

Share