Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển

Call Contact the museum

Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển Diễn đàn của những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển, và lưu giữ những bài viết liên quan đến ông..

CÚT KÍT XE ĐẠP CÀ TÀNG: ĐỈNH CAO “VĂN MINH” GIỮA LÒNG SÀI GÒN…Trong cuốn “Sài Gòn Tạp pín lù” của bác hai Vương Hồng Sển...
25/07/2026

CÚT KÍT XE ĐẠP CÀ TÀNG: ĐỈNH CAO “VĂN MINH” GIỮA LÒNG SÀI GÒN…

Trong cuốn “Sài Gòn Tạp pín lù” của bác hai Vương Hồng Sển có nói hai chữ “văn minh”:

Văn minh, theo tự điển dạy, là cái tia của đạo đức, phát hiện hoặc nơi chánh trị, nơi pháp luật, nơi học thuật, hay điển chương, v.v... gọi là văn minh (Đ.D. Anh). Phản đối với văn minh là dã man.

Ai nói mình đã man, thì giận, xét lại là chưa khai hóa, thì giận chỗ nào? Ngày nay, xáo trộn, không nên ham nói chữ, không khéo sanh vạ. Người Pháp viết "la rangon de la civisation", Đào Duy Anh dịch: "đại giá của văn minh", cũng như "la rangon du progès", tưởng cũng nên dịch: đại giá của sự tiến bộ, hoặc cái quả báo của sự tiến hành, nhưng cũng đừng dịch cao kỳ như vậy khó hiểu, và cứ nói nôm na: muốn tấn bộ phải trả giá cao.

- Cô gái quê muốn hưởng chút văn minh của thị thành, phải kỳ mài cho bớt lớp bùn, và bỏ tật sức dầu dừa, chưa chắc thấy văn minh, chỉ vừa sạch sạch nước "cản", mà chưa chi tấm trinh đã rách!…

… Thời đó, văn minh, khu đeo đồng hồ mắc tiền. Văn minh, khi máy hát nhập cảng vào Sài Gòn lối 1910, tôi đã từng thấy máy hát xưa lúc đó có cái ống tòa loa thật lớn thật choán chỗ, để làm cho tiếng kêu thêm lớn, có máy như máy đồng hồ, khi muốn hát, phải vặn dây thiều, rồi đặt trên mặt cái máy, ban sơ là một ống (như ống chỉ máy may) sau đối cái ống ấy thay bằng "dĩa", người xứ ta mấy chục năm về trước đã có làm, sơ khởi là "đĩa hát của thầy Năm Tú ở Mỹ Thơ", hát tuồng hát bội, tuồng giễu thuật chuyện trớ trêu chọc cười (tích thằng Lãnh bán heo, chuyện hai thằng hề lên cao lầu ăn mì "thổ thần") dĩa hát Tây có hiệu "Pathé phono" (có trước thầy Năm Tú), xuống đến thâu vào đĩa tuồng Kim Vân Kiều, tuồng Trang tử cổ hồn (Trang Tử thử vợ) cũng của thầy Năm Tú, kế đến dĩa hiệu Asia. Máy hát cũng tân thời là hiệu Columbia, có hai dây thiều và hát được lâu và rõ tiếng hơn. Lúc ban đầu, nhà nào có máy hát là tối đại văn minh, mỗi lần cho máy hát, trong xóm bu lại nghe đứng chật cửa nhà, và người dân quê vẫn tin có con ma trong máy nên tiếng người nghe rõ rệt. Chẳng bao lâu, lối đầu chiến tranh binh Nhật đổ bộ Nam kỳ, tiếp theo có cuộc đảo chánh năm 1945 của Nhật, rồi tới chạy nạn tán cư, nhà cửa đều tiêu tan, máy và dĩa chẳng những không còn mà đã bị thay thế bằng máy transistor và bằng máy télévision, như nay đã biết, nói nữa là thừa.

Một triệu chứng của văn minh tôi được biết là cái tủ sắt tức là cái tủ dựng bạc làm toàn bằng sắt, hiệu tốt và bền chắc, đốt không cháy, ăn cướp phá không nổi (hay phá một cách rất khó) là tủ hiệu "Bavehe", hiệu "Fichet", hiệu "Le Gavlois", những tủ này thay thế từ chiếc vò, cái hũ chôn tiền qua cái rương xe, hòm giường, rương sắt, nay thảy đều mới lạ đối với thanh niên tân thời, từng đọc sách vở cũ mà chưa có in hình như cuốn Petit Larousse của Pháp, (không kể trước đây ông Trương Vĩnh Ký có in một cuốn Pháp Việt Tự điển, và được in lại các hình vật y như trong Larousse đã kể, như sách nầy nay cũng ít nhà còn lưu trữ).

Tủ sắt giữ của một thời gian cho các nhà giàu đất Nam, nhưng giữ mà không biết làm cho tiền sanh đẻ ra tiền lãi, tiền lời, và theo luật đào thải, tủ sắt bị thay thế bằng ngân hàng, (tủ lui về nằm ở ngân hàng). Tiền gởi nhà băng, sanh lợi, khiến cho vào thời gần đây, đời Diệm đến đời Thiệu, tiền ký ngân hàng, sanh lợi đến 20% (hai chục phần trăm), có vài triệu phú gỏi băng đến 100 triệu (100.000.000$), mỗi năm rút tiền lãi đến 20 triệu (20.000.000$), tưởng rằng vô tận, ngờ đâu ngày 30-4-1975, của Tàu trả lại âm ty sạch sành sanh cả đám.

Tóm lại: chiếc đồng hồ, cái máy hát và cái kết bạc, ba món ấy vẫn là của nợ, nợ văn minh, tục luy cũng là đây, và "muốn cho sạch nợ, còn gì là duyên" (K.) hỡi trời?

Tui thích nhất đoạn bác viết: “Văn minh có ích là chiếc xe đạp, thánh Gandhi còn khen, và chiếc xe đạp ngày nay có ích và quí hơn chiếc ô tô, nhưng phải coi chừng, xe đạp bị bợm dòm hành, xe xấu, chạy nghe cút kít, khổ xác khổ thân, nhưng bợm cũng không chừa, khổ ơi là khổ!

Người Nam kỳ chơn lấm tay bùn, khi thấy chiếc bicydlette, có hai bánh, tự chạy ro ro, khoái trong lòng, tên là "cái xe máy", máy đâu không thấy, chỉ thấy ngồi đạp êm ru, tưởng gọi xe u mê cũng tạm cho là được. Đến khi xe đạp có gắn máy tự động, gọi motocyclette, người Nam dịch là "xe máy dầu" nghe ẹ quá, và người Bắc gọi "xe mô tô" hay "moto", thì cũng ẹ như nhau. Bây giờ, gọi theo hiệu, xe Honda, nọ nọ, và xe ba bánh của Ý bày, gọi Lambretta, qua nước Nam, còn lại xe lam, vừa gọn, vừa không kén mặt, vừa làm giàu cho tiếng nước nhà: xe lam, xe buýt….

(hết trích)

****

Ngẫm lại, ai nói gì thì nói mặc ai, giờ tui thấy hãnh diện khi mình đi xe đạp cà tịch cà tang lang thang, thong d**g dạo khắp ngang cùng ngỏ hẻm Sài Gòn lòng vui phơi phới…

Đọc đoạn trích “Sài Gòn Tạp pín lù” của bác hai Vương Hồng Sển mà thấy cái duyên cái tình của người Sài Gòn xưa nó mặn mòi quá! Bác nhìn chữ "văn minh" bằng góc nhìn vừa sâu sắc, vừa cay đắng mà cũng đầy trào lộng. Từ chiếc máy hát "có con ma bên trong", cái tủ sắt Fichet đành ngậm ngùi lui về ngân hàng, cho tới chiếc đồng hồ đeo tay… tất cả gom lại cũng chỉ là thứ "nợ văn minh".

Nhưng ngẫm kỹ mới thấy, cái đút kết về chiếc xe đạp của bác hai mới thật là ngộ nghĩnh và vượt thời gian.

Mà nghĩ cũng đúng, cái sự "hãnh diện" khi thong d**g trên chiếc xe đạp cà tịch cà tang giữa lòng Sài Gòn hôm nay nó "văn minh" theo một kiểu rất đời, rất tình và cũng rất… "ngầu":

Mấy chục năm trước, thấy cái bicyclette hai bánh chạy ro ro, người ta ngạc nhiên gọi là "xe máy" dù chẳng thấy máy đâu, chỉ thấy dùng hai cái giò đạp muốn hụt hơi. Qua bao nhiêu thời đại, người ta đua nhau đổi từ "xe máy dầu", xe Mobylette, Lambretta tới Honda cúp, rồi giờ là ô tô máy lạnh xịn mịn. Ngờ đâu đi một vòng "luân hồi văn minh", cái xe đạp cút kít ngày xưa lại chễm chệ leo lên ghế… đỉnh cao tân thời!

Bây giờ, ngồi trong ô tô đắt tiền mà gặp cảnh kẹt xe giờ cao điểm ở Sài Gòn thì cũng chỉ biết nhích từng chút một, nhòm ngó xung quanh với bộ mặt bốc hỏa. Trong khi đó, mình cưỡi chiếc xe đạp cà tàng, len lỏi qua từng con hẻm nhỏ, đón từng cơn gió Nam Bộ lồng lộng. Người đi ô tô phải tốn tiền tỷ để mua sự "đóng hộp", còn mình chỉ cần hai cái bàn đạp là ôm trọn cả đất trời Sài Gòn vào lòng. Đó chẳng phải là cái "sang" mà triệu phú chưa chắc đã mua được sao?

Bác hai bảo đồng hồ, máy hát, kết bạc là "của nợ". Xe hơi, xe tay ga đời mới bây giờ cũng thế: nợ tiền xăng, nợ tiền gửi xe, nợ tiền bảo dưỡng, lại thêm cái nợ lo canh cánh bị bợm giật kính bẻ gương. Mặc dù bác hai có than "xe xấu bợm cũng không chừa", nhưng thiệt tình, chạy cái xe đạp cà tàng thì cùng lắm bợm dòm xong cũng… thở dài bỏ đi cho nhẹ nợ. Cái sự "thất nghiệp" của bọn trộm cướp khi nhìn thấy xe mình chính là một chứng nhận an toàn văn minh nhất!

Nói không ngoa, đi xe đạp chính là hành động "văn minh xanh" đúng nghĩa nhất. Chẳng xả ra một tẹo khói bụi nào, chẳng làm phiền tai ai bằng tiếng nổ giòn giã. Xe kêu "cút kít" nhẹ nhàng như một bản hòa tấu phố phường, vừa rèn luyện đôi chân chắc khỏe, vừa giữ cho không khí Sài Gòn bớt đi một chút khói bụi.

"Thiên hạ đua chen xe máy, ô tô,
Trả giá văn minh, rước hỏa vô.
Ta đây xe đạp xoay hai bánh,
Thong d**g ngõ hẻm, sướng như vua!"

Cứ thong d**g đạp xe, nghêu ngao vài câu ca, ngắm nhìn phố phường Sài Gòn đổi thay qua từng góc hẻm. Ai nói mình lạc hậu mặc ai, mình cứ tự hào: Đi xe đạp cà tàng mà lòng thanh thản, không nợ nần tục lụy, đóng góp cho môi trường xanh – đó mới chính là đỉnh cao của cái sự "khai hóa" và văn minh thời nay!

V.Q.T

CHUYỆN TÌNH VƯƠNG HỒNG SỂN - NĂM SA ĐÉC…Tôi không phải là “tín đồ” của cải lương, hát bội. Dù là người gốc Bắc di cư vào...
18/07/2026

CHUYỆN TÌNH VƯƠNG HỒNG SỂN - NĂM SA ĐÉC…

Tôi không phải là “tín đồ” của cải lương, hát bội. Dù là người gốc Bắc di cư vào Nam năm 1953, tôi cũng không quan tâm đến loại cải lương “lai” như của cô đào Kim Chung “Tiếng chuông vàng Thủ Đô” tại Sài Gòn hồi cuối thập niên 50s.

Đó là loại cải lương giống như của người miền Nam nhưng lại hát theo giọng Bắc của ông bầu Trần Viết Long và cũng là chồng của cô đào chính Kim Chung. Dĩ nhiên là đa số khán giả là những người Bắc di cư vào Nam từ năm 1954. Họ đến để ủng hộ đoàn cải lương “cây nhà lá vườn”.

Có một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cô đào hát Kim Chung người Bắc lại trùng vói tên của cô Nguyễn Kim Chung (1908-1988) sinh tại Sa Đéc. Cô là con của ông Hương cả Nguyễn Duy Tam, người sáng lập Thiện Tiền Ban - gánh hát bội đầu tiên ở Sa Đéc năm 1915.

Cô Kim Chung (Sa Đéc) lại là một nghệ sĩ hát bội mang nghệ danh “Cô Năm Sa Đéc”, nổi tiếng với những vai diễn để đời trên sân khấu như Đổng Trác, Lữ Bố, Trưng Trắc… Giọng hát hay cộng với sắc đẹp trời cho nên cô nức tiếng với lời tán tụng “thanh sắc lưỡng toàn”.

Sau khi gánh hát Thiện Tiền Ban tan rã, Cô Năm sang Cần Thơ đi hát cho gánh của Bầu Bòn. Bà Bầu Bòn chuyển thể thành gánh hát bội pha cải lương vì phải chiều theo thị hiếu của quần chúng bình dân miền Nam lúc đó.

Từ khi bước vào nghiệp cầm ca, thoạt đầu Cô Năm có nghệ danh là Năm Nhỏ nhưng vì “đụng hàng” với một cô đào hát bội khác nổi tiếng thuộc lớp đàn chị là cô Năm Nhỏ (Cần Thơ) nên Cô Năm phải chọn nghệ danh mới là “Năm Sa Đéc”!

Năm 1937, mối tình đầu của Cô Năm Sa Đéc với kép Hai Thành không thành, Cô Năm lập gia đình với Đốc phủ sứ Đặng Ngọc Chấn ở Sài Gòn và có với nhau một người con trai tên Đặng. Ông Đặng sau này cũng đóng nhiều phim như Hòn Đất, Ván bài lật ngửa, Đằng sau một số phận, Người đẹp Tây Đô, Ngọn nến hoàng cung…

Cô Năm còn có thêm cuộc tình với học giả nổi tiếng là Vương Hồng Sển (1902-1996). Thời trẻ, ông học tại trường Collège Chasseloup Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn). Sau khi thi đỗ bằng Brevet Elémentaire, ông được phân làm công chức ngạch thư ký và phục vụ nhiều nơi từ năm 1923 đến năm 1943, trong đó có dinh Thống đốc Nam Kỳ (1939-1943).

Từ năm 1948, ông làm Quyền quản thủ Viện Bảo tàng Quốc gia Việt Nam tại Sài Gòn cho đến khi về hưu vào năm 1964. Vương Hồng Sển cưới một cô gái nhà giàu, tên Trần Thị Thố. Đám cưới năm 1924 nhưng chỉ hai năm sau hai người kéo nhau ra tòa ly dị. Lý do duy nhất: ông chồng quá mê sách và đồ cổ.

Năm 1927 ông cưới bà vợ thứ hai, tên Dương Thị Tuyết, con gái ông Phủ Lê Văn An. Khi ông bà Phủ An từ trần, để lại một gia tài đồ sộ cho vợ chồng Vương Hồng Sển. Ông tâm sự:

“… cũng vì có tiền nhiều nên nhơn tâm biến đổi. Sau mười chín năm từ 1927 đến 1946, vợ chồng ăn ở với nhau như bát nước đầy. Bỗng vợ tôi tâm ôm cầm sang thuyền khác. Cô ôm một lô hột xoàn, bỏ tôi với mớ đồ cổ cô cho là vô dụng, chén bát cũ và sách rách bìa xác xơ như chủ nó”.

Năm 1947, Vương Hồng Sển ôm mối hận nên bỏ Sóc Trăng lên Sài Gòn, trong bụng “nuôi mộng trả thù”. Nhưng thù chưa trả được thì lại “đụng” cô Năm Sa Đéc. Người bị mất vợ, người bị chồng bỏ, hai trái tim đang tan vỡ lắp ghép vào nhau. Ông Sển kể lại về Cô Năm:

“Năm ở một chòi lá, mướn mỗi tháng 3 đồng; tôi thì không nhà lại thêm tánh quân tử Tàu, nên cũng chẳng có gì... Rồi Năm sanh một trai, cha già con muộn, tôi mừng quá. Hai nỗi khổ gặp nhau. Tôi làm khai sanh và giao kết với nhau: còn thương thì ở, hết thương thì đường ai nấy đi, không có gì bận bịu, cũng không nhắc đến việc gì khác ngoài cái nghĩa tào khang.

Tháng 6/1948, có bố ráp tại xóm Cù Lao, lính Tây bắt cả xóm ra ngồi ngoài sân. Cũng may, tai qua nạn khỏi và cũng nhờ cuộc bố ráp này, ông xin được Sở Canh nông cho phép cất một căn nhà lá tạm, ở đến năm 1953 mới dọn đi. Ông kể lại: “Nơi đây là hạnh phúc nhứt trong đời tôi. Vừa còn trẻ, thêm sanh đứa con trai duy nhứt, đặt tên là Vương Hồng Bảo”.

Sống với nhau hơn 40 năm, ông Vương Hồng Sển đã khóc trong lúc vợ lâm chung năm 1988: “Năm ơi! Năm cũng nên xét lại mà bỏ qua những lỗi lầm của anh, để trong giờ phút sắp tiễn biệt em, đôi ta kẻ âm người dương gian, xin em tha thứ để anh vơi bớt nỗi khổ tâm”.

Ông còn làm bài thơ “Khóc em Năm Sadec”, trong đó có chữ “Sóc Sa” với hàm ý Sóc Trăng và Sa Đéc, nơi “chôn nhau cắt rún” của hai người:

“Trăm năm dầu lỗi hẹn hò,
Chén cơm Bà Chiểu, con đò Sóc Sa”.

Đó là mối tình già của một kẻ “50 năm mê cải lương” với cô đào hát Năm Sa Đéc. Soạn giả cải lương Nguyễn Phương kể lại:

“Ông Vương Hồng Sển trong những dịp trà dư tửu hậu, kể những kỷ niệm ngày đầu gặp gỡ, những khó khăn trở ngại và những lúc hạnh phúc nhất trong cuộc đời chồng vợ của ông và bà Năm cho tôi và một số ít nghệ sĩ thân thiết trong Ban kịch Phương Nam nghe khi chúng tôi đến nhà ông ở số 9 đường Nguyễn Thiện Thuật gần chợ Bà Chiểu, Gia Định, để tập kịch thu truyền hình (năm 1967)”.

Ông Sển cho biết, sau khi người vợ thứ hai của ông là bà Dương Thị Tuyết bỏ ông, rồi lấy cái hộp sắt đựng 360 viên hột xoàn từ 3 đến 4 ly của bà Phủ An cho hai vợ chồng ông hưởng gia tài để sang thuyền khác với ông bạn Hà Văn Thân. Ông Sển ra tòa ly dị với bà Tuyết xong nên về Saigon ở để kiếm việc làm.

Ông ở nhờ nhà của bà Hai Hẩu ở đường Aviateur Garros tức đường Thủ Khoa Huân và ông được nhận cho làm việc ở Viện Bảo Tàng trong Thảo Cầm Viên năm 1948, ăn lương công nhựt, mỗi tháng 1.173 đồng. Vương Hồng Sển kể lại cơ duyên gặp gỡ Bà Năm Sa Đéc:

“Tôi quen biết Năm năm 1943, khi đoàn hát Phụng Hảo hát ở Sóc Trăng. Nhà tôi rộng rãi nên tôi rước anh chị em đào kép về nhà tôi ở. Lúc đó có chị Bảy Phùng Há, vợ chồng anh Tư Út (Phạm Văn Đẩu và vợ là Sáu Ngỗng), cô Kim Thoa, cô Tư Thanh Tùng, cô Sáu Ngọc Sương, cô Tường Vi, anh Hai Tiền và Năm đây…

“Tôi làm công chức, đứng bàn ông chánh tỉnh trưởng Tây nên ở Sadec, tôi cũng thuộc về hạng có máu mặt. Tôi mê coi hát bội, hát cải lương hồi còn đi học trường Tây, giờ đây được dịp gần gũi chuyện trò với những anh chị đào kép hát mà tôi qúy mến thì còn gì thích cho bằng? Bởi vậy trong nhà tôi cứ ba ngày có một tiệc lớn, bảy ngày có tiệc nhỏ theo kiểu Tào Tháo chiêu đãi Quan Vân Trường, Tam nhật đại yến, thất nhật tiểu yến… tôi thật sự mến mộ đặc biệt với Năm đây…

“Lúc Năm hát bội thì được giới hát bội nhà nghề đánh giá là thuộc về nhóm Ngũ Châu tức là năm viên ngọc quý: Đó là các cô Năm Đồ, cô Cao Long Ngà, cô Ba Út, cô Hai Nhỏ và cô Năm Sadec đây (hồi hát bội có nghệ danh là Năm Nhỏ). Khi qua lãnh vực hát cải lương thì Năm đây đổi nghệ danh là Năm Sadec, Năm cũng được báo chí và khán giả khen tặng là tài danh thinh sắc lưỡng toàn. Tôi chú ý tới Năm là vì lúc đó Năm vừa đẹp, vừa hát hay mà lại là con người chịu khó làm lụng chuyên cần.

“Mỗi khi tôi bày cuộc tiệc ăn nhậu cho các bạn đào kép thì Năm là người đầu tiên xăn tay áo nhào vô lo việc bếp núc. Khi cuộc tiệc tàn thì Năm xăn tay áo lo thu dọn, rửa chén bát, quét nhà, dọn dẹp như chính là cái nhà của Năm. Lúc đó thì con vợ của tôi, bà Tuyết đó, bả lo đi đậu chến, đi từ sáng tới tối mịt, đứt chến mới mò về, nhà cửa bất biết, thằng chồng no hay đói cũng không hỏi han tới… tôi thương vợ tôi thiệt nhưng mà sao trong lòng hỏng thấy quý bà ta như quý em Năm…
(hết trích)

Qua lời kể lại của soạn giả Nguyễn Phương, Vương Hồng Sển tâm sự về hoàn cảnh của cả hai, một kẻ thì mê cải lương và một kẻ là đào hát:

“Lúc đó, cái năm 1947, tui buồn cho cái thân tui bị vợ cặm sừng, nó bỏ tui… Cái tự ái của thằng đàn ông, tính hỏng thèm lấy vợ nữa… Còn bả thì bả bị thằng chồng nó theo con vợ bé, nó cũng bỏ bả… Tui thì ra tòa chờ tòa tuyên bố cho ly dị, còn bả khi có chồng thì hồi đó nghệ sĩ đâu có làm hôn thơ giá thú chi cho nó tốn tiền mà lại giấy tờ rắc rối. Bởi vậy khi thằng chồng nó quất ngựa chuối truy phong thì cô vợ xách rương ôm trấp kiếm chỗ khác mà sống. Bởi vậy bả hận đàn ông, còn tui hận đàn bà…”

Cuộc gặp gỡ “định mệnh” đầu tiên của hai người diễn ra một cách tình cờ nhưng cũng không kém phần lãng nạm: chàng dắt chiếc xe đạp lẽo đẽo đi theo… người đẹp:

“Rồi thì trời xui đất khiến, cái đêm tôi đi coi hát bội gánh Tấn Thành Ban hát ở chùa Dọn Bàn, Dakao, bỗng nhiên tôi gặp lại em Năm trong vai Lữ Phụng Tiên… Khi nghe em hát… Giỏ lá vai mang nhè nhẹ, em xuống giọng “thoàng”… tôi nghe thiệt là mê man trong dạ. Vãn hát rồi tôi chưa chịu về, còn nấn ná ở cửa hậu trường để gặp Năm khen mấy tiếng thì mới đành bụng.

“Ai ngờ gặp nhau, nói đủ thứ chuyện, tôi dắt chiếc xe đạp, dẫn bộ theo em lại cầu Mac Mahon, em nói em ở xóm Cù Lao nằm bên nầy đường Võ Di Nguy. Đêm đó tôi nhất quyết đi theo cho biết nhà em ở đâu và trong bụng cũng tính khi có dịp thuận tiện thì sẽ lại mời em xuống Chợ Cũ lại tiệm Cao Lâu ăn một bữa cơm Tàu.
(hết trích)

Thế rồi Vương Hồng Sển cũng mò tới xóm Cù Lao. Xui cho ông gặp đúng lúc “mã tà” bao vây cả xóm để xét giấy tờ. Chỉ huy nhóm lính nầy là một thiếu úy người Pháp và hai thằng “xét dăng” (sergent). Cũng nhờ nói tiếng Tây rốp rốp, ông bỗng thành thông dịch viên tình nguyện. Nhờ trong xóm có người “có học”, biết tiếng Pháp, nên lính chỉ xét qua loa rồi bỏ đi. Câu chuyện kết thúc “có hậu” cho cả hai ngườ. Ông kể lại:

“Đã gần 12 giờ khuya, giới nghiêm rồi làm sao mà về nhà đây… Năm cũng biết vậy nên biểu tôi vô nhà ngủ, sáng sớm sẽ về. Mà trong nhà chỉ có một chiếc chõng tre một người nằm, tôi ngủ chung trên chõng đó sao được. Bởi vậy tôi kiếm giấy nhựt trình trải dưới đất, tính dọn một chỗ để ngã lưng qua đêm. Ai dè Năm cười cười: “Bộ tính ngủ ở dưới nền đất thiệt sao? Ngủ như vậy, tới sáng thì bịnh đó”

- Thì cũng ráng chịu, bụng làm dạ chịu, đâu có than van… Tôi trải giấy nhựt trình xong, sửa soạn nằm xuống.

- Năm nói: “Nè, hỏi thiệt, anh có thương tui hông? Có muốn thiệt tâm làm vợ làm chồng với tui hông? Nói thiệt đi…

- Thiệt tình tôi thương Năm, tôi thề…

- Khỏi thề! Lên giường đây ngủ. Anh đàng hoàng hay không đàng hoàng, tui biết liền…”

Một đời mê hát cải lương, trong đó có hơn 40 năm sống chung cùng đào hát, chuyện đời của ông Vương Hồng Sển và Bà Năm Sa Đéc có thể được coi là một “Love Story made in Vietnam”!

NGUYỄN CHÍNH

ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ VỀ CHỢ LỚN CŨ VÀ SỰ RA ĐỜI CHỢ BÌNH TÂY…Bức ảnh tư liệu chính là Chợ Lớn cũ (Marché de Cholon), đầu mối...
06/06/2026

ĐÔI DÒNG LỊCH SỬ VỀ CHỢ LỚN CŨ VÀ SỰ RA ĐỜI CHỢ BÌNH TÂY…

Bức ảnh tư liệu chính là Chợ Lớn cũ (Marché de Cholon), đầu mối giao thương sầm uất bậc nhất Nam Kỳ một thời, và bức ảnh dưới là Bưu điện Chợ Lớn ngày nay (số 26 Nguyễn Thi, Quận 5).

Trước khi người Pháp cho xây dựng ngôi chợ kiên cố bằng gạch ngói và sườn sắt (như trong ảnh trên), tại vị trí này đã có một ngôi chợ tự phát của người Hoa từ cuối thế kỷ 18, mọc lên sau khi họ rời vùng cù lao Phố (Biên Hòa) về đây lánh nạn. Vì quy mô của nó lớn hơn hẳn các chợ lân cận (như chợ Tân Kiểng, chợ Quán Thừa), người dân quen gọi là "Chợ Lớn" để phân biệt. Cái tên này sau đó được dùng để gọi cho cả một vùng đô thị và một tỉnh riêng biệt.

Ngôi chợ cũ trong ảnh được người Pháp kiên cố hóa vào cuối thế kỷ 19. Điểm đặc trưng nhất của nó chính là tháp đồng hồ bốn mặt ở ngay cổng chính mặt tiền — một biểu tượng đô thị kiểu phương Tây nhưng lại phục vụ cho một không gian giao thương thuần túy Á Đông.

Chợ Lớn cũ nằm ngay đầu rạch Chợ Lớn (nhánh rạch dẫn thẳng từ kênh Tàu Hủ vào, chạy dọc theo trục đường Hải Thượng Lãn Ông ngày nay). Ghe xuồng chở nông sản, lúa gạo từ miền Tây lên có thể neo đậu sát vách chợ để bốc dỡ hàng.

Đến thập niên 1920, do nhu cầu mở rộng đường sá đô thị và ngăn chặn ô nhiễm, người Pháp bắt đầu cho lấp dần các con rạch nội đô (trong đó có rạch Chợ Lớn). Khi rạch bị lấp, lợi thế "trên bến dưới thuyền" của ngôi chợ không còn, cộng thêm việc chợ bị hỏa hoạn và quá tải, việc xây dựng một trung tâm thương mại mới trở nên cấp thiết. Điều này dẫn đến sự ra đời của chợ Bình Tây vào năm 1928 (do ông Quách Đàm hiến đất và bỏ vốn xây dựng).

Theo cụ Vương Hồng Sển mô tả Quách Đàm từng là một người vô gia cư nghèo khổ, phải gánh đôi quang gánh đi lượm ve chai và ngủ nhờ trên vỉa hè khu vực Chợ Lớn. Ông được biết đến là người cực kỳ nhạy bén. Học giả Vương Hồng Sển đã kể lại một "mánh lới" kinh doanh táo bạo làm nên tên tuổi ông: Trong một vụ làm ăn, Quách Đàm sai người đi gom mua sạch lúa gạo, khiến các thương lái khác buộc phải đến hỏi mua lại với giá cao. Nhờ thương vụ này, ông phất lên nhanh chóng, độc quyền nguồn lúa và trở thành "vua lúa gạo" Nam Kỳ. Nhờ sự nghiệp kinh doanh phát đạt, Quách Đàm đã bỏ toàn bộ kinh phí (hơn 2 triệu đồng bạc Đông Dương lúc bấy giờ) để xây dựng nên Chợ Bình Tây.

Vị trí chợ cũ (khu vực Bưu điện Chợ Lớn hiện nay) trở nên quá chật hẹp, ông muốn dời chợ về khu vực mới khang trang hơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để các tiểu thương buôn bán và làm ăn sầm uất.

Chợ Bình Tây được khởi công xây dựng vào năm 1928, nhưng đáng tiếc là ông đã qua đời năm 1927 trước khi ngôi chợ hoàn thành và khánh thành (năm 1930).

Sau khi chợ Bình Tây đi vào hoạt động và giới tiểu thương chuyển dời về đó, khu đất của ngôi chợ cũ được quy hoạch lại. Vào khoảng đầu thập niên 1930, chính quyền cho xây dựng tòa nhà Bưu điện Chợ Lớn ngay trên nền đất cũ.

Nếu nhìn kỹ vào bức ảnh, bạn sẽ thấy kết cấu mặt tiền của Bưu điện Chợ Lớn ngày nay vẫn giữ nguyên phom dáng hình khối ba gian của cổng chợ cũ năm xưa. Đặc biệt, vị trí của chiếc đồng hồ tròn ở gian giữa mặt tiền bưu điện ngày nay chính là sự kế thừa trực tiếp từ tháp đồng hồ của ngôi chợ thế kỷ 19, dù chiếc tháp cao đã được hạ thấp xuống để phù hợp với công năng của một tòa nhà hành chính.

Ngay phía dưới chiếc đồng hồ của bưu điện hiện tại vẫn còn giữ lại ba chữ cái P & T đắp nổi. Đây là viết tắt của cụm từ tiếng Pháp Postes et Télégraphes (Bưu điện và Điện báo), minh chứng cho giai đoạn lịch sử khi ngành bưu chính viễn thông bắt đầu bén rễ tại Nam Kỳ.

Ngày nay, dù không gian xung quanh đã có nhiều thay đổi theo nhịp sống hiện đại (phần mặt tiền bưu điện đôi khi được tận dụng cho các dịch vụ tiện ích mới), nhưng Bưu điện Chợ Lớn vẫn đứng đó như một chứng nhân lịch sử trầm mặc. Nó lưu giữ ký ức về một thời hoàng kim của rạch Chợ Lớn và điểm khởi nguồn cho cái tên của cả một vùng đất.

V.Q.T

MỘT THOÁNG VÂN ĐƯỜNG PHỦ GIỮA LÒNG BẢO TÀNG THÀNH PHỐ…Sáng nay tui ghé Viện bảo tàng TP.HCM trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm...
06/06/2026

MỘT THOÁNG VÂN ĐƯỜNG PHỦ GIỮA LÒNG BẢO TÀNG THÀNH PHỐ…

Sáng nay tui ghé Viện bảo tàng TP.HCM trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vé vào cổng thông thường là 30 ngàn đồng, riêng người cao tuổi như tui được bớt còn 15 ngàn. Nhưng mục đích chính của chuyến đi sáng nay không phải để tham quan chung chung, mà là để tìm đến phòng trưng bày cổ vật sưu tầm của bác Hai Vương Hồng Sển.

Gian phòng rộng khoảng 50 mét vuông, được bài trí vô cùng trang nghiêm. Ngay giữa khán phòng là tấm pano lớn in hình bác Hai với mái tóc sương trắng đang cúi đầu, lật nhẹ từng trang sách cũ. Nhìn hình bác, trong lòng tui dâng lên một cảm xúc ấm áp lạ kỳ. Bên cạnh tấm hình là lời tự bạch mộc mạc của bác: “Năm tuổi, biết nhịn ăn để dành đồng xu sắc sảo... Mười chín tuổi ra trường đậu Diplôme, đã vọc vạch đồ cổ.” Cái "nghiệp" mê đồ xưa từ thuở lên năm, lên chín ấy đã đi theo bác suốt cả cuộc đời, để rồi để lại cho hậu thế một kho tàng văn hóa vô giá.

Đứng giữa không gian tĩnh lặng, ngắm nhìn những chiếc bình gốm cổ, bộ sưu tập hay những bộ bàn ghế gỗ cẩn xà cừ trầm mặc dưới ánh đèn dịu nhẹ, lòng tui chợt thoáng chút bùi ngùi. Ai yêu mến học giả Vương Hồng Sển mà không biết đến ước nguyện lúc lâm chung của bác: hiến tặng ngôi nhà cổ Vân Đường phủ cùng toàn bộ bộ sưu tập báu vật để làm một viện bảo tàng mang tên mình. Tiếc thay, vì nhiều lý do của lịch sử và cuộc sống, tâm nguyện ấy đến nay vẫn chưa vẹn tròn...

Nhưng rồi, nhìn cách những cổ vật này được nâng niu, đặt ở một nơi trang trọng ngay trung tâm mảnh đất Sài Gòn mà bác cả đời gắn bó, tui lại tự an ủi mình: Có lẽ ở nơi chín suối, bác Hai cũng đã phần nào mỉm cười yên nghỉ. 15 ngàn đồng cho một tấm vé người cao tuổi, nhưng giá trị nhận về lại là một khoảng lặng vô giá, một cuộc đối thoại đầy cảm xúc với bậc tiền nhân.

Niềm mãn nguyện ấy của tui càng được củng cố khi nhớ lại buổi tọa đàm trực tuyến nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của học giả Vương Hồng Sển (22/1/1996 - 22/1/2026) do Tạp chí Xưa & Nay phối hợp cùng các cơ quan văn hóa tổ chức cách đây không lâu. Trong buổi tọa đàm đó, tui đã được nghe những kiến nghị đầy tâm huyết từ các nhà chuyên môn: từ việc tái bản những đầu sách quý của bác Hai, tôn tạo lại ngôi nhà cổ Vân Đường phủ, cho đến việc mở rộng phòng trưng bày cổ vật khang trang hơn.

Những lời kiến nghị đó cứ vang vọng trong tâm trí tui khi đứng trước những món đồ xưa cũ sáng nay. Đó mới chính là những việc làm thiết thực, là nén tâm hương ý nghĩa nhất để tri ân một bậc tiền nhân đã sống trọn vẹn, tận hiến cả cuộc đời cho văn hóa nước nhà.

Bước ra khỏi khuôn viên bảo tàng, hòa vào dòng xe hối hả của Sài Gòn, tui thấy lòng mình nhẹ nhàng và ngập tràn hy vọng. Bởi tui tin, dòng chảy văn hóa mà bác Hai Vương Hồng Sển cả đời vun đắp, vẫn đang được người hậu thế tiếp nối và giữ lửa cho đến hôm nay...

V.Q.T

P/S: Ảnh chụp tại Viện bảo tàng TP. HCM sáng nay.

SÀI GÒN TRĂM NĂM SOI BÓNG RẠCH BẾN NGHÉ…Nhìn từ Cầu Mống của những năm đầu thế kỷ trước, rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) ...
04/06/2026

SÀI GÒN TRĂM NĂM SOI BÓNG RẠCH BẾN NGHÉ…

Nhìn từ Cầu Mống của những năm đầu thế kỷ trước, rạch Bến Nghé (Arroyo Chinois) hiện lên như một bức tranh thủy mặc đan dệt bằng trăm mái ghe lá và những phận người sông nước. Bên hữu ngạn là con đường Bến Vân Đồn bờ bãi hoang sơ với những dãy kho hàng đầu tiên, phía xa xăm là dáng dấp kiêu hãnh của chiếc Cầu Quay Khánh Hội thuở mới phôi thai.

Trăm năm trôi qua, khói sóng bến sông xưa nay đã nhường chỗ cho những đại lộ rực rỡ đèn hoa, nhưng cái hồn cốt 'trên bến dưới thuyền' năm nào vẫn mãi soi bóng, neo giữ một phần ký ức chẳng thể phai mờ của mảnh đất Sài Gòn - Gia Định.

***

Người Pháp gọi rạch Bến Nghé là L'Arroyo Chinois (Kênh Người Hoa) vì con rạch này là tuyến đường thủy huyết mạch dẫn trực tiếp từ sông Sài Gòn vào vùng Chợ Lớn – nơi cộng đồng người Hoa sinh sống và buôn bán vô cùng sầm uất.

Nhìn vào hình, có thể thấy độ dày đặc của các loại ghe bầu, ghe lồng và nhà bè san sát. Đây không chỉ là phương tiện vận chuyển lúa gạo, nông sản từ miền Tây lên, mà còn là "ngôi nhà di động" của bao thế hệ cư dân sông nước thời bấy giờ.

Cầu Mống do công ty vận tải hàng hải Pháp Messageries Maritimes bỏ vốn xây dựng. Điểm đặc biệt của nó là kiểu kiến trúc vòm bằng thép khuyết, một trong những cây cầu có tuổi thọ lâu đời nhất còn sót lại tại Sài Gòn hiện nay.

Người Pháp gọi là Pont des Messageries Maritimes, nhưng trong dân dã gọi là "Cầu Mống" vì hình dáng chiếc cầu cong vòng lên nhìn giống như chiếc mống cầu cầu vồng.

Phía bên phải bức ảnh chính là đường Bến Vân Đồn (thuộc Quận 4 ngày nay). Thời Pháp, các con đường dọc sông rạch thường được đặt tên bắt đầu bằng từ Quai (Bến).

Trục đường Quai de la Marine cùng với hệ thống kho bãi dọc bờ rạch (như các dãy nhà kho anh thấy ở góc trên bên phải) đóng vai trò là "vùng đệm" trung chuyển hàng hóa khổng lồ trước khi xuất đi các nước.

Nhìn lại bức ảnh, mọi người thấy sự tương phản giữa những chiếc ghe mái lá thô sơ với các công trình kiến trúc kiên cố bằng thép và bê tông của người Pháp phía xa đã phác họa rất rõ nét một giai đoạn chuyển mình lịch sử của đô thị Sài Gòn đầu thế kỷ XX.

Nếu lật lại những trang ghi chép về địa chí Nam Kỳ xưa, đặc biệt là các công trình khảo cứu của học giả Vương Hồng Sển, vùng đất Khánh Hội và rạch Bến Nghé hiện lên với rất nhiều chi tiết thú vị. Trong các ghi chép dân gian và khảo cứu địa danh, từ "Bến Nghé" được giải nghĩa theo hai thuyết phổ biến. Một thuyết cho rằng xưa kia nơi đây có nhiều cá sấu nổi lên, tiếng kêu trầm đục nghe như tiếng nghé rống (gọi là trâu nước). Thuyết khác, mang tính ngôn ngữ học, cho rằng "Bến Nghé" được biến âm từ tiếng Khmer “Kompong Kreb” (bến trâu/nghé).

Đoạn bờ sông bên phải ảnh (Bến Vân Đồn - Quận 4) vốn thuộc vùng đất Khánh Hội xưa. Nơi này từng được cụ Vương Hồng Sển miêu tả là vùng đất của những dòng người tứ xứ đổ về lập nghiệp, gắn liền với các bến tàu, kho bãi (như tổng kho Khánh Hội) và đời sống lao động bình dân nhưng vô cùng hào sảng.

Nhìn kỹ vào lòng rạch trong ⁠ảnh sẽ thấy sự đa dạng của các phương tiện đường thủy, phản ánh rõ nét văn hóa giao thương thời bấy giờ. Chiếc ghe lớn ở cận cảnh phía dưới ảnh có phần mui lợp bằng lá dừa nước xé lọn rất dày để che nắng mưa cho hàng hóa bên trong. Đây là loại ghe chở tôn, sành sứ, hoặc lúa gạo từ lục tỉnh lên.

Phía bên phải, sát bờ Bến Vân Đồn, là những ngôi nhà cắm cọc tạm bợ trên mặt nước. Cư dân ở đây thường mở các tiệm buôn bán nhỏ ngay trên ghe/bè để cung cấp nhu yếu phẩm (trà, rượu, thuốc súng, gạo, nước ngọt) cho các tàu ghe neo đậu vãng lai.

Dãy nhà có kiến trúc ô cửa vuông vắn xuất hiện ở góc trên bên phải ảnh chính là những nhà kho đầu tiên của khu vực cảng. Người Pháp khi quy hoạch cảng Sài Gòn và cảng Khánh Hội đã biến trục đường dọc sông này thành một "vành đai hậu cần" khổng lồ. Hàng hóa từ miền Tây đổ về đây sẽ được phân loại trong các kho này trước khi bốc dỡ lên tàu lớn tại cảng Nhà Rồng cách đó không xa.

Nếu phóng to góc trên bên phải, ta có thể thấp thoáng thấy bóng dáng của những cỗ xe ngựa hoặc xe kéo tay đang vận chuyển hàng hóa trên con đường đá dọc bờ kênh – phương tiện vận tải đường bộ chủ lực bên cạnh hệ thống đường thủy thời bấy giờ.

Cảnh tượng trong ⁠ảnh là một lát cắt tĩnh lặng nhưng đầy biến động. Đến những thập niên sau (giai đoạn 1950 - 1970), mật độ nhà ổ chuột và nhà sàn vách ván mọc lên dọc bờ kênh này còn dày đặc hơn nữa do áp lực di dân chiến tranh. Phải đến chiến dịch chỉnh trang đô thị lớn đầu thế kỷ XXI, toàn bộ hệ thống nhà dọc kênh mới được giải tỏa, nhường chỗ cho đại lộ Võ Văn Kiệt bên kia bờ và công viên cây xanh dọc đường Bến Vân Đồn phẳng phiêu như ngày nay.

Bức ảnh này thực sự là một "báu vật" thời gian, lưu giữ lại cái hồn cốt của một Sài Gòn thuở còn đậm chất sông nước nguyên sơ trước khi nhường chỗ cho những khối bê tông cao tầng.

V.Q.T

NỖI UẤT ỨC BÊN CỬA PHẬT: KHI “NHÂN QUẢ” BỊ LUẬN BÀN MÁY MÓC…Hôm nay ngày rằm tháng 4 - lễ Phật đản. Đây cũng là ngày cuố...
31/05/2026

NỖI UẤT ỨC BÊN CỬA PHẬT: KHI “NHÂN QUẢ” BỊ LUẬN BÀN MÁY MÓC…

Hôm nay ngày rằm tháng 4 - lễ Phật đản. Đây cũng là ngày cuối cùng của tháng 5 dương lịch.

Cứ ngày rằm là bà xã đi chùa và ăn chay, tui lại không thích ăn chay và cũng không vô chùa kể từ ngày con trai mất năm 2009… và khi tui đọc cuốn “Sài Gòn tạp pín lù” của bác hai Sển có nhắc chuyện “Tu cũng chẳng yên thân”, tui xin trích ra đây:

“Theo sự hiểu biết nông cạn của tôi, tôi tin chắc con người sanh ra đều có số kiếp riêng không ai giống ai, và số tôi là phải long đong lận đận, cây muốn đặng mà gió không ngừng, mới làm sao đây? Và rủi ro đâu khéo khiến. Lên ở chùa chưa được nửa tháng, mừng lòng vừa trút bớt ưu phiền, nâu sồng an phận, chay lạt vừa quen, tuy kinh kệ chưa thuộc nhưng với chí quyết thủng thẳng cũng sẽ học được như người ta, ở vừa yên nơi yên chỗ, bỗng bà mãi biện về thăm quê, nay trở lại chùa, bà có phận sự coi việc xuất phát và quyền hành trong chùa của bà, sau tôi rõ lại là lớn hơn ông trụ trì nhiều lắm, tôi không biết bản mặt của tôi, thuở nay ăn khách đàn ông lắm chớ, thế mà đối với mụ nầy, mặt tôi với mặt bà kỵ ở chỗ nào? Hôm tôi ra mắt, bà nhíu đôi lông mày nhìn tôi trân trân, rồi từ hôm ấy, hễ thấy mặt tôi là bả ghét cay ghét đắng, đi vô bà nguýt, đi ra bà háy, có việc chi sai bảo đến tôi là bà nặng nhẹ giằn thúc đến điều, dùng những tiếng không phải của người tu hành, toàn là lời xóc óc đâm hông. Nam mô di Phật nào tôi có dám đả động chi bà? Bà nói với mấy ỷ ban Chợ Lớn lên đây cúng chùa mà tôi nghe rõ từng tiếng một: "Cái tuổng mặt coi còn bền ngót, khéo nói chuyện gõ mõ tụng kinh, làm dâu cửa Phật, khéo bán dạng thuyền quyên, trêu ngươi bẹo chúng; Thiệt khéo thì thôi; Tôi nói đây để cho mấy ý mấy bà về ăn trầu gẫm lại coi: thét đây khi mai mà chùa nầy không khỏi trở nên nhà bảo sanh mà chớ?".

Tôi nghe mấy lời mà muốn trào máu họng; Mô Phật; Nam Mô A Di Đà Phật; Chị em cô bác nghĩ coi: đi tu thì mặc đồ dà, tưởng như vậy cũng đủ. Tu là tu lòng, tu tâm dưỡng tánh, còn việc tôi để tóc chưa thí phát là việc riêng trối kệ tôi, vì lời nguyện muốn trước thử lòng mình xem có số tu không, chớ nào tôi tiếc gì ba mớ tóc. Thế mà bà muốn tôi xẻo hai tai đâm đui hai mắt bà mới vừa lòng. Bà nói chi lời bất nhơn thất đức ấy? Tôi nhớ lần nào tôi vào liêu thầy tôi, thì ở ngoài nầy nghe tiếng bả đà ó giặc, lầm bầm lụp bụp, đụng cái nầy, khua cái kia, bốp thiên. Nghe mà lạnh xương sống; Mô Phật; Nói sợ tội với trời; Chớ bà làm, hình như bả ghen tôi cho ông Phật sống là thầy tôi đây vậy!

Nghĩ tới đây tôi lập tâm quyết chí, thề độc chuyến nầy, một phen tôi xuống núi bận nầy; tôi sẽ hung sẽ ác cho lại gan với đời mới nghe cho; Từ đó kéo mũ Quan Am che mặt, tôi ẩn nhẫn chờ thời dẫu bả tiếng chay tiếng mặn, tôi cứ nuốt giận lấp hai giả điếc, nín lì chịu trận. Có một đêm kia, trời khuya khoắt, một đám cướp từ đâu không rõ, tông cửa chánh điện, ùa vào liêu thầy tôi, lục soát và tóm thâu không chừa một món. Chúng hăm dọa mấy ông đạo chạy đôn đáo khắp nơi, biểu đem nạp thầy tôi để đền tội gì đó. Kiếm hết sức không gặp, mới chịu buồm. Cũng may đêm ấy thầy tôi xuống chợ tụng kinh cầu an cho nhà nào đó đến sáng mới về chùa nên khỏi tay chúng. Mụ mãi biện đi đâu dưới chợ cùng về với thầy tôi trước sau không lâu nên cũng thoát nạn.

Về vừa thấy tan tành đổ đạc, bả liền nổi tam bành lên, chửi đông đổng ăn cướp gì biết được đêm chùa vắng chủ, có họa là tôi đây đem đường dẫn lối, biết chỗ nào là liêu chỗ nào chứa của gì, nên mới cướp sạch bách như vậy. Bả lại buộc thầy tôi một cũng phải đuổi, hai cũng phải đuổi tôi ra khỏi chùa lập tức, bả mới để yên cho. Nói cho chí phải, thầy tôi nào nỡ nghe theo và cứ kiếm lời giả lá. Thầy tôi nói ngon nói ngọt chừng nào, bả lại trèo đèo chừng nấy, hăm nếu không, bả sẽ xuống quan thưa gởi bắt tôi cho được mới nghe. Thầy tôi thấy thế túng phải chiều, sợ bả làm tình tệ thì còn chi là thanh danh của chùa. Lúc ấy thầy tôi gọi tôi vào liêu, trao năm trăm bạc lại cho tôi, thở ra mà rằng: "Mô Phật. Đồ đệ nầy. Đồ đệ có lòng đem của cúng Bà, thôi, một tấm lòng thành Bà cũng chứng cho, lựa là phải để bạc lại làm chi. Bần tăng coi vóc đồ đệ ốm yếu lắm; vậy có đến chùa nào khác mà qui y thọ phái, nhớ cúng một đôi trăm cũng đủ che thân khỏi cực. Đồ đệ có về ở chùa nào, xứ nào, xin thương nghĩ bụng lấy, kín miệng, kẻo tiếng đời dị nghị không tốt. Mô Phật; nạn tai bất ngờ, đồ đệ khá nguôi lòng. Người đời, hoạn nạn là thử thách. Kẻ nào khóc nhiều kẻ đó sống nhiều; Đồ đệ vui lòng kín miệng che chở cho thầy thì cũng đừng chấp nhứt mụ vãi ngu xuẩn kia, coi vậy chùa nầy không có vãi ấy cũng không xong".

Thầy tôi đã nói đến thế, mỗi mỗi tôi dạ dạ vâng vâng không lời đáp lại tôi nhận năm tấm giấy xăng, lạy thầy hai lạy, xách mơ quần áo cũ, xâm xúi bước ra khỏi điện đi cho một nước! (hết trích)

***

Chuyện vô chùa của bác Hai đụng phải mụ vải ngu xuẩn ăn nói bất nhơn thất đức, bả một hai đòi đuổi bác tui không cho vô chùa… nghe ra có phần nhẹ hơn tui, vì chuyện của tui là khi con trai mất có làm lễ cúng bái siêu thoát con trai ở chùa Phước Thành - Bình Lợi, cái ông thầy trụ trì ăn nói một cách máy móc, a thành phù cho rằng đó là luật nhân quả hay gọi là nghiệp báo, ổng diễn giải đó là hệ quả của gia đình dẫn đến kết quả như vậy… tui nghe tức giận điên cả người, nếu không có nhiều người tại đó, chắc tui sẽ chỉ mặt ổng và mắng cho một trận… Kể tử hôm đó, tui thề không bao giờ bước vô nhà chùa nữa.

Bác hai Sển ngày xưa bị mụ vãi buông lời cay độc, vu oan giá họa dẫn đường cho cướp, dẫu uất ức đến mức "muốn trào máu họng" nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là chuyện tiền bạc, vật chất ngoài thân.

Còn câu chuyện của tui, nỗi đau ấy chạm đến nơi thiêng liêng và tổn thương nhất của một người làm cha: sự ra đi của đứa con thân yêu.

Vào cái ngày gia đình đang tan nát cõi lòng, cần một lời an ủi, một điểm tựa tâm linh để vong linh người quá cố được nhẹ nhàng siêu thoát, thì người đứng đầu một ngôi chùa lại buông ra những lời giáo điều, máy móc, gán ghép hai chữ "nghiệp báo" một cách tàn nhẫn, tui cho rằng cái ông sư trụ trì năm đó đã sai cả về đạo lý làm người lẫn giáo lý nhà Phật.

Cốt lõi của người tu hành là lòng Từ bi và sự Trắc ẩn. Khi một gia đình mất con, đó là nỗi đau tột cùng của nhân thế. Một người tu chân chính lúc đó phải dùng lời ái ngữ để xoa dịu, an ủi, giúp người ở lại bớt đau thương và người đi được thanh thản.

Việc ông thầy dùng lý thuyết nhân quả ra để "diễn giải", "phân tích" đúng sai ngay trong buổi lễ cúng bái không khác gì một hành động xát muối vào vết thương đang rỉ máu. Đó là sự vô cảm, thiếu tinh tế, và đi ngược lại hoàn toàn với tinh thần cứu khổ, cứu nạn.

Luật nhân quả của nhà Phật là một hệ thống cực kỳ vĩ đại, thâm sâu, trải qua vô lượng kiếp, chứ không phải là một công thức toán học giản đơn, nông cạn theo kiểu "đời cha ăn mặn đời con khát nước" như cách ông thầy kia ám chỉ. Phật giáo không xem nhân quả là một sự trừng phạt của một đấng bề trên nào cả. Việc một người thân ra đi sớm đôi khi đơn giản là vì "duyên" của họ với cõi đời này đến đó đã mãn, họ đã trả xong nợ trần ai và cần bước sang một hành trình mới.

Không một ai, ngoại trừ bậc chính đẳng chính giác (Phật), có đủ tuệ giác để nhìn thấu suốt nghiệp quả của một con người. Việc một vị thầy trụ trì tự cho mình cái quyền phán xét "đó là hệ quả của gia đình" là sự kiêu ngạo, hồ đồ và phạm vào khẩu nghiệp rất nặng.

Bác hai Sển ngày trước bị đuổi khỏi chùa thì "xách mớ quần áo cũ, xâm xúi bước ra khỏi điện đi cho một nước", rồi ẩn nhẫn nhìn đời. Tui bây giờ cũng vậy, không vào chùa không có nghĩa là mình không hướng thiện. Tu là tu lòng, tu tâm dưỡng tánh.

Bà xã đi chùa, ăn chay, đó là cái duyên và cách tìm kiếm sự bình yên cho gia đình. Còn tui nghiệm rằng ngồi ở nhà chơi một bản guitar, vẽ tranh, đọc một cuốn sách hay của tiền nhân, nhớ về con trai với tất cả tình yêu thương thuần khiết nhất, không vướng bận những lời phán xét vô minh của người đời – đó đã là một cách "tu tâm" tự tại và thanh cao.

V.Q.T

Address

Tp. Hcm

Telephone

+84903684799

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Những người hâm mộ học giả Vương Hồng Sển:

Shortcuts

Share