25/07/2026
CÚT KÍT XE ĐẠP CÀ TÀNG: ĐỈNH CAO “VĂN MINH” GIỮA LÒNG SÀI GÒN…
Trong cuốn “Sài Gòn Tạp pín lù” của bác hai Vương Hồng Sển có nói hai chữ “văn minh”:
Văn minh, theo tự điển dạy, là cái tia của đạo đức, phát hiện hoặc nơi chánh trị, nơi pháp luật, nơi học thuật, hay điển chương, v.v... gọi là văn minh (Đ.D. Anh). Phản đối với văn minh là dã man.
Ai nói mình đã man, thì giận, xét lại là chưa khai hóa, thì giận chỗ nào? Ngày nay, xáo trộn, không nên ham nói chữ, không khéo sanh vạ. Người Pháp viết "la rangon de la civisation", Đào Duy Anh dịch: "đại giá của văn minh", cũng như "la rangon du progès", tưởng cũng nên dịch: đại giá của sự tiến bộ, hoặc cái quả báo của sự tiến hành, nhưng cũng đừng dịch cao kỳ như vậy khó hiểu, và cứ nói nôm na: muốn tấn bộ phải trả giá cao.
- Cô gái quê muốn hưởng chút văn minh của thị thành, phải kỳ mài cho bớt lớp bùn, và bỏ tật sức dầu dừa, chưa chắc thấy văn minh, chỉ vừa sạch sạch nước "cản", mà chưa chi tấm trinh đã rách!…
… Thời đó, văn minh, khu đeo đồng hồ mắc tiền. Văn minh, khi máy hát nhập cảng vào Sài Gòn lối 1910, tôi đã từng thấy máy hát xưa lúc đó có cái ống tòa loa thật lớn thật choán chỗ, để làm cho tiếng kêu thêm lớn, có máy như máy đồng hồ, khi muốn hát, phải vặn dây thiều, rồi đặt trên mặt cái máy, ban sơ là một ống (như ống chỉ máy may) sau đối cái ống ấy thay bằng "dĩa", người xứ ta mấy chục năm về trước đã có làm, sơ khởi là "đĩa hát của thầy Năm Tú ở Mỹ Thơ", hát tuồng hát bội, tuồng giễu thuật chuyện trớ trêu chọc cười (tích thằng Lãnh bán heo, chuyện hai thằng hề lên cao lầu ăn mì "thổ thần") dĩa hát Tây có hiệu "Pathé phono" (có trước thầy Năm Tú), xuống đến thâu vào đĩa tuồng Kim Vân Kiều, tuồng Trang tử cổ hồn (Trang Tử thử vợ) cũng của thầy Năm Tú, kế đến dĩa hiệu Asia. Máy hát cũng tân thời là hiệu Columbia, có hai dây thiều và hát được lâu và rõ tiếng hơn. Lúc ban đầu, nhà nào có máy hát là tối đại văn minh, mỗi lần cho máy hát, trong xóm bu lại nghe đứng chật cửa nhà, và người dân quê vẫn tin có con ma trong máy nên tiếng người nghe rõ rệt. Chẳng bao lâu, lối đầu chiến tranh binh Nhật đổ bộ Nam kỳ, tiếp theo có cuộc đảo chánh năm 1945 của Nhật, rồi tới chạy nạn tán cư, nhà cửa đều tiêu tan, máy và dĩa chẳng những không còn mà đã bị thay thế bằng máy transistor và bằng máy télévision, như nay đã biết, nói nữa là thừa.
Một triệu chứng của văn minh tôi được biết là cái tủ sắt tức là cái tủ dựng bạc làm toàn bằng sắt, hiệu tốt và bền chắc, đốt không cháy, ăn cướp phá không nổi (hay phá một cách rất khó) là tủ hiệu "Bavehe", hiệu "Fichet", hiệu "Le Gavlois", những tủ này thay thế từ chiếc vò, cái hũ chôn tiền qua cái rương xe, hòm giường, rương sắt, nay thảy đều mới lạ đối với thanh niên tân thời, từng đọc sách vở cũ mà chưa có in hình như cuốn Petit Larousse của Pháp, (không kể trước đây ông Trương Vĩnh Ký có in một cuốn Pháp Việt Tự điển, và được in lại các hình vật y như trong Larousse đã kể, như sách nầy nay cũng ít nhà còn lưu trữ).
Tủ sắt giữ của một thời gian cho các nhà giàu đất Nam, nhưng giữ mà không biết làm cho tiền sanh đẻ ra tiền lãi, tiền lời, và theo luật đào thải, tủ sắt bị thay thế bằng ngân hàng, (tủ lui về nằm ở ngân hàng). Tiền gởi nhà băng, sanh lợi, khiến cho vào thời gần đây, đời Diệm đến đời Thiệu, tiền ký ngân hàng, sanh lợi đến 20% (hai chục phần trăm), có vài triệu phú gỏi băng đến 100 triệu (100.000.000$), mỗi năm rút tiền lãi đến 20 triệu (20.000.000$), tưởng rằng vô tận, ngờ đâu ngày 30-4-1975, của Tàu trả lại âm ty sạch sành sanh cả đám.
Tóm lại: chiếc đồng hồ, cái máy hát và cái kết bạc, ba món ấy vẫn là của nợ, nợ văn minh, tục luy cũng là đây, và "muốn cho sạch nợ, còn gì là duyên" (K.) hỡi trời?
Tui thích nhất đoạn bác viết: “Văn minh có ích là chiếc xe đạp, thánh Gandhi còn khen, và chiếc xe đạp ngày nay có ích và quí hơn chiếc ô tô, nhưng phải coi chừng, xe đạp bị bợm dòm hành, xe xấu, chạy nghe cút kít, khổ xác khổ thân, nhưng bợm cũng không chừa, khổ ơi là khổ!
Người Nam kỳ chơn lấm tay bùn, khi thấy chiếc bicydlette, có hai bánh, tự chạy ro ro, khoái trong lòng, tên là "cái xe máy", máy đâu không thấy, chỉ thấy ngồi đạp êm ru, tưởng gọi xe u mê cũng tạm cho là được. Đến khi xe đạp có gắn máy tự động, gọi motocyclette, người Nam dịch là "xe máy dầu" nghe ẹ quá, và người Bắc gọi "xe mô tô" hay "moto", thì cũng ẹ như nhau. Bây giờ, gọi theo hiệu, xe Honda, nọ nọ, và xe ba bánh của Ý bày, gọi Lambretta, qua nước Nam, còn lại xe lam, vừa gọn, vừa không kén mặt, vừa làm giàu cho tiếng nước nhà: xe lam, xe buýt….
(hết trích)
****
Ngẫm lại, ai nói gì thì nói mặc ai, giờ tui thấy hãnh diện khi mình đi xe đạp cà tịch cà tang lang thang, thong d**g dạo khắp ngang cùng ngỏ hẻm Sài Gòn lòng vui phơi phới…
Đọc đoạn trích “Sài Gòn Tạp pín lù” của bác hai Vương Hồng Sển mà thấy cái duyên cái tình của người Sài Gòn xưa nó mặn mòi quá! Bác nhìn chữ "văn minh" bằng góc nhìn vừa sâu sắc, vừa cay đắng mà cũng đầy trào lộng. Từ chiếc máy hát "có con ma bên trong", cái tủ sắt Fichet đành ngậm ngùi lui về ngân hàng, cho tới chiếc đồng hồ đeo tay… tất cả gom lại cũng chỉ là thứ "nợ văn minh".
Nhưng ngẫm kỹ mới thấy, cái đút kết về chiếc xe đạp của bác hai mới thật là ngộ nghĩnh và vượt thời gian.
Mà nghĩ cũng đúng, cái sự "hãnh diện" khi thong d**g trên chiếc xe đạp cà tịch cà tang giữa lòng Sài Gòn hôm nay nó "văn minh" theo một kiểu rất đời, rất tình và cũng rất… "ngầu":
Mấy chục năm trước, thấy cái bicyclette hai bánh chạy ro ro, người ta ngạc nhiên gọi là "xe máy" dù chẳng thấy máy đâu, chỉ thấy dùng hai cái giò đạp muốn hụt hơi. Qua bao nhiêu thời đại, người ta đua nhau đổi từ "xe máy dầu", xe Mobylette, Lambretta tới Honda cúp, rồi giờ là ô tô máy lạnh xịn mịn. Ngờ đâu đi một vòng "luân hồi văn minh", cái xe đạp cút kít ngày xưa lại chễm chệ leo lên ghế… đỉnh cao tân thời!
Bây giờ, ngồi trong ô tô đắt tiền mà gặp cảnh kẹt xe giờ cao điểm ở Sài Gòn thì cũng chỉ biết nhích từng chút một, nhòm ngó xung quanh với bộ mặt bốc hỏa. Trong khi đó, mình cưỡi chiếc xe đạp cà tàng, len lỏi qua từng con hẻm nhỏ, đón từng cơn gió Nam Bộ lồng lộng. Người đi ô tô phải tốn tiền tỷ để mua sự "đóng hộp", còn mình chỉ cần hai cái bàn đạp là ôm trọn cả đất trời Sài Gòn vào lòng. Đó chẳng phải là cái "sang" mà triệu phú chưa chắc đã mua được sao?
Bác hai bảo đồng hồ, máy hát, kết bạc là "của nợ". Xe hơi, xe tay ga đời mới bây giờ cũng thế: nợ tiền xăng, nợ tiền gửi xe, nợ tiền bảo dưỡng, lại thêm cái nợ lo canh cánh bị bợm giật kính bẻ gương. Mặc dù bác hai có than "xe xấu bợm cũng không chừa", nhưng thiệt tình, chạy cái xe đạp cà tàng thì cùng lắm bợm dòm xong cũng… thở dài bỏ đi cho nhẹ nợ. Cái sự "thất nghiệp" của bọn trộm cướp khi nhìn thấy xe mình chính là một chứng nhận an toàn văn minh nhất!
Nói không ngoa, đi xe đạp chính là hành động "văn minh xanh" đúng nghĩa nhất. Chẳng xả ra một tẹo khói bụi nào, chẳng làm phiền tai ai bằng tiếng nổ giòn giã. Xe kêu "cút kít" nhẹ nhàng như một bản hòa tấu phố phường, vừa rèn luyện đôi chân chắc khỏe, vừa giữ cho không khí Sài Gòn bớt đi một chút khói bụi.
"Thiên hạ đua chen xe máy, ô tô,
Trả giá văn minh, rước hỏa vô.
Ta đây xe đạp xoay hai bánh,
Thong d**g ngõ hẻm, sướng như vua!"
Cứ thong d**g đạp xe, nghêu ngao vài câu ca, ngắm nhìn phố phường Sài Gòn đổi thay qua từng góc hẻm. Ai nói mình lạc hậu mặc ai, mình cứ tự hào: Đi xe đạp cà tàng mà lòng thanh thản, không nợ nần tục lụy, đóng góp cho môi trường xanh – đó mới chính là đỉnh cao của cái sự "khai hóa" và văn minh thời nay!
V.Q.T