Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự

Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự Một sân chơi kiến thức dành cho tôi và tất cả các bạn. Nếu thấy Pages hay hãy ấn nút Like và chia sẻ.

Một chiếc máy bay vận tải Siebel Si-204 do Đức sản xuất được Phi đoàn vận tải Bắc Cực Liên Xô Aviaarktika sử dụng thời h...
02/06/2026

Một chiếc máy bay vận tải Siebel Si-204 do Đức sản xuất được Phi đoàn vận tải Bắc Cực Liên Xô Aviaarktika sử dụng thời hậu chiến.

____

Siebel Si-204 là một mẫu máy bay vận tải hạng nhẹ/ huấn luyện do Đức sản xuất và sử dụng trong Thế chiến II.
Siebel Si-204 được phát triển từ mẫu máy bay trước đó là Siebel Fh-104. Chúng được thiết kế để sử dụng làm máy bay chở khách dân dụng hạng nhẹ cho hãng Deutsche Luft Hansa. Siebel Si-204 có tổ bay 2 người và có thể chở theo 8 hành khách. Nhưng sau khi chiến tranh bùng nổ, Siebel Si-204 được chuyển sang sử dụng trong biên chế Không quân Đức. Siebel Si-204 được sử dụng làm máy bay vận tải hạng nhẹ, chở quan chức hay làm giáo cụ cho các trường đào tạo phi công. Đây là một mẫu máy bay có độ tin cậy cao và có khả năng hoạt động trong môi trường lạnh.
Trong giai đoạn 1941-1942, Siebel Si-204 chủ yếu được sản xuất tại Nhà máy SNCAN tại Pháp. Từ năm 1943, việc sản xuất chủ yếu được tiến hành ở Tiệp Khắc tại các nhà máy của Aero và ČKD. Tổng cộng, người Đức đã sản xuất hơn 1200 chiếc Siebel Si-204 các phiên bản khác nhau.
Sau chiến tranh, nhiều máy bay Siebel Si-204 chiến lợi phẩm được Không quân Pháp, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary sử dụng cho tới tận giữa thập niên 1950. Siebel Si-204 cũng được sử dụng làm máy bay vận tải dân sự tại Hà Lan, Thuỵ Điển, Tiệp Khắc, Ba Lan, Tây Ban Nha và Liên Xô. Tại Liên Xô, Phi đoàn vận tải Bắc Cực vẫn sử dụng Siebel Si-204 cho tới khi giải thể vào năm 1960. Những chiếc Siebel Si-204 trong biên chế Phi đoàn vận tải Bắc Cực được trang bị thêm ván trượt tuyết thay cho bánh xe ở càng đáp.

Thông số kỹ thuật (phiên bản Si-204D):
-Khối lượng trống: 3,95 tấn
-Khối lượng đầy tải: 5,6 tấn
-Dài: 11,95m
-Sải cánh: 21,33m
-Cao: 4,25m
-Tổ bay: 2 người + 8 hành khách
-Động cơ: 2x động cơ V12 Argus As-411-A1 590hp
-Trần bay tối đa: 7,5km
-Tốc độ tối đa: 364km/h
-Tầm hoạt động: 1800km

Nguyễn Đăng Tuân - Người thầy đáng kính của vua Thiệu TrịSử sách triều Nguyễn ghi lại rất nhiều câu chuyện giữa các vị h...
02/06/2026

Nguyễn Đăng Tuân - Người thầy đáng kính của vua Thiệu Trị

Sử sách triều Nguyễn ghi lại rất nhiều câu chuyện giữa các vị hoàng đế và người thầy. Một trong những câu chuyện cảm động chính là tình cảm giữa vua Thiệu Trị và Nguyễn Đăng Tuân, quê ở Phù Chánh, nay là xã Hưng Thủy (Lệ Thủy).

Nguyễn Đăng Tuân sinh năm 1772 trong một gia đình nho học, cha là Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hoành, tên tự là Tín Phu, hiệu là Thận Trai, tính tình thuần chất, lối học chủ nghĩa duy lý. Dưới triều Tây Sơn, ông ở ẩn để nuôi chí. Buổi đầu đời vua Gia Long, chú trọng người tài, ông được chọn vào làm việc ở Viện Hàn lâm, từng làm quan Tri huyện Ngọc Sơn, rồi được triệu về kinh sung chức Tư giảng ở Công phủ, sau đổi làm Thị giảng ở cung Chấn Hanh.

Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) bổ làm Thiêm sự bộ Lễ. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827), ông được thăng chức, bổ nhiệm làm Hộ tào Bắc thành, sau chuyển sang Binh tào, vào làm Hữu Tham tri bộ Lễ. Năm Minh Mạng thứ 11 (1830), vua sai quan sửa chữa luật lệ, sung ông chức Phó Tổng tài. Năm sau thăng hàm Tả Tham tri bộ Lễ rồi về hưu. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), ông được sung chức Sư bảo của hoàng tử. Vua rất trông mong, đặt nhiều kỳ vọng vào ông.

Trong số các hoàng tử mà ông dạy dỗ, có Nguyễn Phúc Miên Tông, sau này là vua Thiệu Trị. Nguyễn Đăng Tuân là người lễ giáo, dạy bảo các hoàng tử cẩn trọng và rất nghiêm nên được vua Minh Mạng hết sức yêu quý. Ông từng nói “Các hoàng tử ở nhà Tập Thiện, lúc tiến, lúc dừng, phần nhiều chưa hợp lễ, nếu chỉ giảng tập lễ phép thường thôi, sợ khó nên người có đức. Xin tham chước khuôn phép giảng học về Minh Mạng năm thứ 4, nghĩ định điều lệ, để cho cách dạy từ lúc bé được đứng đắn, và liệt ra tiết mục rõ ràng dâng lên”[1]. Chính nhờ sự tận tụy, hết lòng với nhiệm vụ cao cả, ông được gia hàm Thượng thư.

Ít lâu sau, ông xin cáo quan về làng. Tháng giêng (1941), khi vua Thiệu Trị lên ngôi năm thứ nhất đã ban dụ: “Tham tri bộ Lễ Nguyễn Đăng Tuân là người dạy dỗ trẫm học hành, trải qua nhiều năm nên già yếu, bệnh tật, đã mấy lần dâng sớ xin về nghỉ hưu nhưng Hoàng khảo còn thương tiếc cựu thần không nỡ cho về, sau sức khỏe ngày càng yếu nên đành thuận theo ý nguyện, ban cho giữ nguyên hàm về nghỉ hưu. Đến nay, các hoàng đệ của ta đã trưởng thành đều nhờ công lao dạy dỗ của viên ấy. Vậy, nay lại gọi ra cho làm ấu bảo của Hoàng tử và gia thưởng hàm Thượng thư, làm việc thêm 4-5 năm nữa vẫn giúp ích được nhiều”[2].

Năm đó, ông lại được khôi phục chức Sư bảo của hoàng tử, hoàng đệ. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), khi vua có chuyến Bắc tuần, ông được sung chức Đại thần ở lại kinh thành, thăng thụ chức Hiệp biện đại học sĩ, sung chức Sư bảo như cũ. Có thể thấy, vua Thiệu Trị hết sức nể trọng học vấn uyên bác của Nguyễn Đăng Tuân nên rất thành kính, đối đãi trọng thị với người thầy dạy. Dù trước đó, được cho phép về quê dưỡng già nhưng vì quý trọng trí tuệ, tấm gương đạo đức sáng ngời của ông mà vua vẫn khẩn thiết mời vào làm thầy cho các hoàng tử.

Tháng 9 cùng năm, ông dâng sớ tâu bị bệnh đau đầu, khó thở, xin được về quê dưỡng bệnh. Vua không nỡ trái ý mãi, bèn y cho về nghỉ, ban thưởng cho 10 củ sâm Cao Ly, 10 tấm quế Thanh, 100 lạng bạc để chi cho việc thuốc thang. Lại truyền cho bộ Công phái một chiếc thuyền có mui cho binh lính đi theo, bộ Lễ phái một thuộc viên, Viện Thái y phái một thuộc viên hộ tống trên đường đi. Ngày lên đường, vua truyền hoàng tử Hồng Bảo đích thân tiễn thầy dạy lên thuyền và truyền cho quan tỉnh Quảng Bình điều phái phu trạm đợi sẵn tại bến thuyền Hồ Xá (Quảng Trị) hộ tống về quê.

Nguyễn Đăng Tuân là người thận trọng, ít nói, sung làm chức Bảo phó lâu năm, sau khi về quê, vua mến nhớ khôn nguôi. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), vua sai Nội các mang sắc thư đến nhà hỏi thăm sức khỏe, phong hàm Vĩnh Lộc đại phu Hiệp biện đại học sĩ. Hàng năm, chia một nửa lương bổng, lại cho người con thứ tập ấm là Nguyễn Đăng Đạc làm Tư vụ cùng cháu là cử nhân Nguyễn Đăng Hành ở nhà phụng dưỡng.

Ông đã dâng sớ khẩn thiết từ chối: “Quan tước là để khuyến khích hiền tài, bổng lộc là để nuôi dưỡng liêm khiết. Thần là kẻ thư sinh, lập nên nghiệp nhà, làm quan đến thự Tòng nhất phẩm, vinh quý biết nhường nào. Đã không thể làm được việc gì, chống gậy ở chỗ quê hương, vui mừng trông thấy cảnh thái bình, tự biết đã được may mắn quá phận! Thần trải thờ ba triều, bấy lâu nhờ về lương làm quan, cộng với hơn 10 mẫu ruộng của tiền nhân để lại, không đến nỗi thiếu ăn; lại được ơn cho nhiều bạc lụa, cũng đủ ăn gầy lúc tuổi già… Nếu được rủ lòng thương đến, thì số lương cho một năm một nửa, thần tôi xin lĩnh một kỳ để tỏ vẻ vang được ơn vua cho. Còn như thưởng cho quan hàm và lương cho từ sang năm trở đi, xin được theo như chí của thần chuẩn cho định miễn…”. Vua Thiệu Trị phê vào bản sớ rằng:“Tiên sinh thân tuy ở nơi điền dã, lòng vẫn để ở nơi cửa vua, há chẳng thấy chế độ nhà Hán “Không có quân công, không được phong hầu”, thế mà Hoành Vinh, Khổng Bá đều được tước Quan nội hầu, đời cổ nói không âm đức nào không báo, không lời nói nào là không đều”. Lễ phải là vậy, hà tất phải từ chối”[3].

Cảm kích trước tấm lòng của người thầy, vua làm bài thơ đề tặng. Khi Nguyễn Đăng Tuân đến cáo từ, cảm động đến chảy nước mắt, khuyên vua giữ gìn long thể để lo việc công, yêu đức nghĩa. Vua cũng vì thế mà cảm động, quý tặng ông nhân sâm bồi bổ sức khỏe, một bộ tập đầu thơ Ngự chế, một bộ Bắc tuần thi tập, một bộ áo chầu, sai quan ở bộ chuẩn bị binh thuyền hộ tống về quê. Lại sai hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy đưa tiễn lên thuyền, an ủi, hỏi han, rồi về tâu lại.

Tháng 12 Thiệu Trị năm thứ 4 (1844), Hiệp biện đại học sĩ hưu trí Nguyễn Đăng Tuân mất tại quê nhà, thọ 73 tuổi. Vua thương xót, cho truy tặng hàm Thiếu sư, lại ban cho tên thụy là Văn Chính, gia cấp cho 3 cây gấm hoa, 5 cây sa hoa, vải lụa mỗi thứ 50 tấm, 1.000 quan tiền. Chuẩn cho con trưởng là Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên Nguyễn Đăng Giai về quê lo liệu vệc tang, sai Bố chính Quảng Bình là Nguyễn Văn Đạt đến tế một tuần.

Ngày an táng, vua sai Từ tế sứ Tôn Thất Trật khâm lệnh đến tế một tuần rượu, làm một bài thơ để viếng và một đạo sắc làm lễ phần hoàng, khi tuần rượu tế thì tuyên đọc, còn một đạo giấy rồng giao cho con cháu nhận giữ để làm gia bảo. Lại cho soạn công trạng khắc vào bia đá, dựng bia ở làng Phù Chánh quê hương ông.

Năm Tự Đức thứ nhất (1848), vua nhớ ơn công lao của Nguyễn Đăng Tuân đã làm 2 bài thơ và ban dụ “Thận Trai tiên sinh, trước sung tây tịch, giúp ích rất nhiều vẫn canh cánh trong lòng, không thể thôi được”[4]. Sai đem thơ mang đến đọc để tế điện. Khi quần thần báo lại cảnh nhà thanh bạch, vua liền ban sắc giao cho ty quan Quảng Bình có trách nhiệm dựng nhà thờ.

Ban đầu ông được an táng tại Phù Chánh, nay là thôn Nội Mai, xã Hưng Thủy. Về sau con cháu cất bốc lên ở Động Êm, dưới chân dốc Sỏi, thuộc xã Hưng Thủy. Do hoàn cảnh chiến tranh, nhà thờ, sắc phong, trước tác, hiện vật con cháu không lưu giữ được gì, chỉ sót lại bức bình phong. Tại phần mộ cũ còn tấm bia đá có tựa đề “Phù Chính hương hiền từ bia ký”, nghĩa là bia đề hương hiền Phù Chính.

Ông Võ Danh Thuần, Chủ tịch UBND xã Hưng Thủy cho biết, với trí tuệ, tài năng và những cống hiến to lớn của Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân trong lịch sử, chính quyền xã và dòng họ Nguyễn Đăng mong muốn các cơ quan chức năng của tỉnh sớm xem xét, xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa đối với khu mộ, nhà thờ để có kế hoạch phục hồi, tôn tạo di tích làm nơi giáo dục truyền thống lịch sử cho thế hệ trẻ.

Mặc dù lên ngôi vương nhưng vua Thiệu Trị vẫn giữ trọn đạo làm trò, hết sức yêu mến, kính trọng ân đức với người thầy. Tình cảm sâu nặng giữa vua Thiệu Trị và Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Đăng Tuân càng làm ngời sáng thêm truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam.

Theo Báo Quảng Trị

Lính Ba Lan với xe tăng hạng nhẹ 7TP dwuwieżowy đánh chiếm Český Těšín, Tiệp Khắc, tháng 10/1938. Lúc bấy giờ, sau khi A...
01/06/2026

Lính Ba Lan với xe tăng hạng nhẹ 7TP dwuwieżowy đánh chiếm Český Těšín, Tiệp Khắc, tháng 10/1938. Lúc bấy giờ, sau khi Anh và Pháp ký Hiệp ước München bật đèn xanh cho Đức đánh chiếm vùng Sudetenland của Tiệp Khắc thì Ba Lan và Hungary cũng tranh thủ bắt tay với Đức Quốc xã xâu xé lãnh thổ Tiệp Khắc.

___

7TP dwuwieżowy (dw) là một phiên bản 2 tháp pháo của xe tăng 7TP do Ba Lan sản xuất vào cuối Thập niên 30 Thế kỉ XX.
Xe tăng 7TP được Ba Lan sản xuất dựa trên bản thiết kế xe tăng Vickers 6-ton Mark E của Anh. Xe tăng 7TP có 2 phiên bản chính: bản dw có 2 tháp pháo và bản jw có 1 tháp pháo.
Xe tăng 7TP dw được trang bị 2 súng máy Ckm wz.30 7,92mm làm vũ khí chính. Nhiệm vụ chính của 7TP dw là phương tiện hỗ trợ bộ binh và chống lại kị binh, bộ binh đối phương. Do không có pháo nên 7TP dw không có khả năng chống lại xe tăng, thiết giáp của đối phương.
Xe tăng 7TP dw lần đầu được sử dụng là trong chiến dịch chiếm đóng vùng Zaolzie, Tiệp Khắc vào năm 1938. Do hoả lực yếu và không còn phù hợp với chiến tranh hiện đại, mẫu xe tăng 7TP dw bị ngưng sản xuất từ đầu năm 1939. Các xe tăng 7TP dw đã sản xuất cũng bị cải hoán thành phiên bản 7TP jw có hỏa lực pháo 37mm mạnh mẽ hơn. Tính đến khi Thế chiến II bùng nổ, chỉ còn 24 chiếc 7TP dw còn trong biên chế Quân đội Ba Lan. Hầu hết số xe tăng 7TP dw của Ba Lan đã bị tiêu diệt trong cuộc chiến Tháng 9/1939 với Đức và Liên Xô.

Thông số kỹ thuật:
-Khối lượng: 9,9 tấn
-Dài: 4,75m
-Rộng: 2,4m
-Cao: 2,2m
-Khoảng sáng gầm: 37,6cm
-Kíp xe: 3 người
-Giáp xe:
+Thân xe: 17mm giáp trước, 11mm giáp bên, 8mm giáp sau, 5mm sàn
+Tháp súng máy: 13mm giáp trước, 13mm giáp bên, 13mm giáp sau, 5mm nóc
-Vũ khí chính: 2 súng máy Ckm wz.30 7,92mm
-Động cơ Diesel Saurer 6 xy-lanh 8550cc 110hp
-Tốc độ tối đa: 32km/h
-Tầm hoạt động: 150km

HỆ THỐNG GIÁO DỤC & THI CỬ TRIỀU NGUYỄNVề nhà học của vua: Năm 1810, vua Gia Long cho dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi đọc...
31/05/2026

HỆ THỐNG GIÁO DỤC & THI CỬ TRIỀU NGUYỄN

Về nhà học của vua: Năm 1810, vua Gia Long cho dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi đọc sách của vua. Năm 1821, vua Minh Mệnh cho xây thêm điện Trí Nhân Đường để đọc sách và sáng tác. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu làm nơi cất giữ và đọc sách. Năm 1919, vua Khải Định cho sửa lại đặt tên là Thái Bình Lâu. Đây là những nơi chỉ để cho vua học và đọc sách. Xem lại những điều đó, thì các vua triều Nguyễn đều khá coi trọng việc đọc sách và nâng cao kiến thức của mình dù họ đã ở tột đỉnh của quyền lực và vinh hoa.

Theo sử sách ghi lại: vào năm Tự Đức thứ 1(1848), nhà vua cho mở lại tòa Kính Diên, tức Viện Tập Hiền để nghe giảng bài. Mỗi tháng, vua học 6 ngày, nghỉ học vào tháng 2. Quan phụ trách gồm 2 giảng quan, 6 nhật giảng quan thị độc học sĩ hoặc thị giảng học sĩ, thị độc hoặc thừa chỉ, trước tác hoặc tu soạn (mỗi chức quan 4 người) và 4 người phục vụ bút thiếp. Các giảng quan phải soạn bài và giảng cho vua nghe. Khi nghe giảng, vua có thể góp ý hoặc cùng bình giảng.

Về Giảng đường: (Tập thiện đường) Dưới triều Nguyễn, Giảng đường được lập từ năm Gia Long thứ 16 (1817). Đây là nơi để dạy dỗ các hoàng tử, thái tử con vua. Đối tượng học là những người tương lai sẽ trị vì đất nước nên việc tuyển thầy dạy học ở các Giảng đường rất được vua coi trọng. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua có lời dụ: "Không cứ là quan trong hay quan ngoài, cốt được người vốn có học hạnh, giữ lấy công chính…đợi ta chọn dùng để ngày thường thay ta dạy bảo bọn hoàng tử ngày ngày chăm chỉ việc học, thường gần người trung chính, đôn đốc khuyến khích hiếu đễ, mài rũa rèn luyện cho tiến bộ để cho sự học và bản chất tốt cũng đưa đến kết quả đạo đức ngày càng tấn tới, để sẵn cho kén chọn vào địa vị làm chủ tể nối dòng dõi ngày sau, thì nghiệp lớn nước nhà được lâu, nền thịnh trị được bền vững” (Theo “Nội các triều Nguyễn: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ”- NXB Thuận Hóa- Huế- 1993 (tr.113 tập 2).

Triều đình cũng quy định số người phụ trách việc giảng dạy cho các Hoàng thân, Hoàng tử, Hoàng đệ, Thái tử dưới các triều vua như sau: Sư bảo 1 người, giáo đạo 1 người, tán thiệp từ 2 đến 4 người, giảng tập từ 2 đến 20 người, chính tự từ 4 đến 10 người. Ty tùy biện chánh cửu phẩm thư lại 1 người, vị nhập lưu thư lại 4 người.

Về Sở Tôn học: (còn gọi là Tôn học đường) là trường học giành cho những người trong tôn thất. Tôn học đường được bố trí: 1 hoàng thân công đôn đốc, 2 hàn lâm viện thị giảng học sĩ làm tổng quản, 1 thị giảng học sĩ, 1 thị độc, 1 chánh cửu phẩm thư lại, 2 vị nhập lưu thư lại. Những người này sau 3 năm sẽ đổi lại 1 lần. Các học quan ở đây , một phần được tuyển từ các học sinh của Quốc Tử Giám.

Về Quốc Tử Giám: Năm Gia Long thứ 2 (1803), nhà vua cho dựng trường Quốc học ở Kinh đô Phú Xuân (Huế) và xuống chỉ đặt 1 quan đốc học, 1 trợ giáo. Đến đời vua Minh Mệnh thứ 2, trường đổi tên thành Quốc Tử Giám. Triều đình còn xây thêm Giảng đường, Di luân đường và 2 học xá ở hai bện tả, hữu; biến nơi đây thành trung tâm giáo dục Nho giáo của nhà nước.

Nối tiếp truyền thống giáo dục khoa cử của thời Lê, Vua Gia Long rất đề cao Nho học, ông cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi. Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.

Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo ông Trần Trọng Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều. Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa. Nhiều người học chỉ để ra làm quan. Trần Quý Cáp, đậu tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1904 có mở trường dạy học ở thôn Thái Lai, làng Bất Nhị, Quảng Nam, có tiếng là hay chữ nên học trò theo học đông lắm. Nhà văn Phan Khôi từng theo học Trần Quý Cáp 10 năm từ năm 9 tuổi đến 19 tuổi sau ghi lại trường học thời đó như sau: Cái nhà ba gian, hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò... Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh Thi, truyện Luận Ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh Dịch, truyện Mạnh Tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp. Thầy ngồi yên rồi dưới này một trò nào chẳng hạn chiếu theo ngày mà mở ba cuốn sách nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý[2] trước mặt thầy. Đọc đi! Thầy truyền... Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghĩa. Trường của Trần Quý Cáp hàng ngày có 150 - 200 học trò đến "nghe sách". Ngoài ra có những người không đến nghe giảng nhưng khi thầy ra đầu bài thì cũng làm bài nộp vào để thầy chấm, con số lên đến non 100.

Trẻ con muốn nhập học thì thường mang xôi, gà đến biếu thầy và làm lễ khai tâm, cúng Khổng Tử để xin làm đệ tử.

Ở những làng giàu có thì một phần công điền gọi là "học điền" có thể được dùng để lấy tiền gạo nuôi thầy đồ trong làng, còn ở những làng không có phương tiện thì chỉ nhà giàu mới có tiền cho con theo học mà thôi. Mỗi năm vào hai ngày tết (Tết Đoan dương và Tết Nguyên đán) thì học trò đem tiền vật đến biếu thầy.

Ngoài ra còn có một số cơ sở giáo dục thuộc nhà chùa, tuy không với mục đích dạy học trò để thi đỗ nhưng cũng góp phần vào việc đào tạo một số người. Triều đình thì ở cấp huyện trở lên mới tham gia trong việc giáo dục. Thấp nhất là trường huyện có quan huấn đạo (hàng thất phẩm) dạy. Lên tới phủ thì quan giáo thụ (hàng lục phẩm) rồi đốc học (hàng tứ phẩm) ở trường tỉnh trông coi.

Kể từ năm 1803 thì ở Huế mở trường Quốc Tử Giám để các con quan và những người trúng tuyển ở các tỉnh vào thụ giáo các quan tế tửu va tư nghiệp. Vào năm 1908 con số ước đoán là trong hai xứ Bắc và Trung Kỳ thuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn có 15.000 trường học và khoảng 200.000 học sinh. Sách dùng trong việc học hành ở thời Nguyễn có hai loại, sách của người Việt soạn và sách của người Tàu làm sẵn.

Sách riêng của người Việt có cuốn Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, và Âu học ngũ ngôn thi.

Sách dùng chung cho các sĩ tử ở Trung Quốc lẫn Việt Nam là những cuốn Thiên tự văn, Hiếu kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, và Tam tự kinh. Khi đã giỏi chữ Nho rồi thì mới học thêm Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ngoài ra còn các sách chuyên đề về Bắc sử, Nam sử, cổ thi. Sách truyện thì hoàn toàn bị các nho gia cho là không đáng đọc vì không truyền đạt đạo Thánh hiền

Trong hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, triều Nguyễn được trưng bày khá đậm nét. Trong nội dung trưng bày về triều Nguyễn, còn có một số hiện vật, hình ảnh về việc học và thi cử thời đó như: sách học, bút nghiên, ống quyển, hòm đựng sách vở của sĩ tử; ảnh thi Hương dưới triều Nguyễn, ảnh giới thiệu về Văn Miếu (Huế)…

Ngày 28/10/2014, tại nhà Tiền đường, khu Thái Học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã khai mạc triển lãm: "Giáo dục Việt Nam giai đoạn 1802-1945" qua tài liệu lưu trữ do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I phối hợp với Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức.

Triển lãm trưng bày 120 phiên bản tài liệu, hình ảnh, bản vẽ kỹ thuật được lựa chọn từ khối Châu bản triều Nguyễn và các tài liệu tiếng Pháp. Các phiên bản tài liệu và hiện vật trưng bày tại triển lãm tái hiện chân thực nền giáo dục của Việt Nam giai đoạn 1802 – 1945 với sự tồn tại của hai nền giáo dục: Giáo dục khoa cử nho học dưới triều Nguyễn và giáo dục khoa cử Tây học thời Pháp thuộc. Qua đó thấy rõ được quá trình thay thế từng bước của nền giáo dục Tây học trước sự suy yếu của nền giáo dục Nho học trong những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.

Đặc biệt, trong tài liệu Châu bản lưu giữ có ghi vua Gia Long đã có nhiều ngự phê tập trung về giáo dục, chú trọng việc thi cử, tuyển chọn nhân tài, học tập tại Văn Miếu Quốc Tử Giám; Vua Khải Định đã ra bản Dụ số 123 ngày 6/12/1918 về việc bãi bỏ kì thi Hội và khoa thi Hội cuối cùng năm 1919, chấm dứt thời kì thi cử Nho học và nền giáo dục phương Tây ngày càng được chiếm lĩnh. Học trong nền giáo dục phương Tây không còn gói gọn trong văn hay, chữ tốt mà đã kết hợp giữa lí thuyết và thực hành.

Đối với các hoàng tử, hoàng đệ, công tử:

Việc dạy dỗ các hoàng tử, hoàng đệ, công tử rất được triều đình chú trọng trong việc tuyển thầy dạy, sách học và các điều kiện học tập khác.

Về sách học, các hoàng tử khi mới học thì cho học Tiểu học, Khai tâm bảo giám, Tứ thư, Ngũ kinh. Ngoài ra các hoàng tử còn được học các sách kinh truyện, sách sử. Các hoàng tử, hoàng tôn từ 15 tuổi trở lên sẽ được học thêm môn bắn cung, cưỡi ngựa…

Về lịch học thì: Những ngày dạy học lấy ngày lẻ giảng truyện hoặc kinh thư. Các ngày chẵn sẽ học sử, học 2 buổi. Các ngày 1,11, 21 hàng tháng, các hoàng tử sẽ phải vào chầu ở chính điện. Chiều các ngày 6,16,26 hàng tháng, các hoàng tử phải đem sách vào chầu ở điện Quang Minh để vua xem bài. Rõ ràng việc đào tạo của triều đình cho các hoàng tử, hoàng đệ được chu đáo, kỹ hơn các thời kỳ trước.

Đối với các Tôn sinh:

Cũng như các triều đại trước đó, triều Nguyễn cũng chú ý có những ưu đãi và quyền lợi hơn đối với những người trong hoàng tộc. Việc đưa người trong tôn thất vào làm tôn sinh là để hưởng những đặc ân này. Năm 1845 vua Thiệu Trị còn có hẳn Chiếu dụ về việc này. Đại ý là những người trong tôn thất là con cháu các thân phiên, hoàng thân có tước công, trừ những người đã được phong tước ấm, còn người nào từ 10 đến 35 tuổi muốn xin vào học đều cho làm danh sách tấu trình, đợi chỉ chuẩn cho sung làm học sinh trường Tôn học. Tôn học là một loại trường học giành cho con em trong hoàng tộc do một Hoàng thân cai quản, 2 hàn lâm học sĩ và nhiều người giảng dạy ở các nơi khác sung vào.

Tại trường Tôn học, các học sinh nhỏ tuổi mới vào học thì học sách tiểu học để biết cách ứng đối, sau đó đến Kinh truyện để rõ nghĩa lý rồi học kỹ các sách sử để biết sự tích. Cứ ngày lẻ thì giảng một bài Kinh và một bài sách tiểu học; ngày chẵn giảng một bài truyện và một bài sử. Mỗi tháng 4 kỳ ra bài vào các ngày 3, 9,17,25. Hàng năm lấy ngày khai trường vào ngày khai ấn tháng giêng; ngày nghỉ giảng vào ngày đóng hòm ấn tháng 12. Lễ khai giảng, nghỉ giảng làm như nhà Quốc Tử Giám. Học sinh trường Tôn học còn được ưu đãi có lương ăn hàng tháng. Ngoài ra càng học cấp cao thì càng được ban thưởng thêm từ 2 đến 5 quan tiền/tháng/người.

Hàng năm vào tháng 11, một viên quan đại thần ban Văn sẽ cùng với Hoàng Thân kiêm coi công việc của nhà Tôn học, cùng với các tổng quản, giáo tập, họp các học sinh lại và ra đầu bài thi. Sau khi chấm xong, người nào được hạng ưu, bình thì được thưởng bạc, tiền theo thứ tự. Hạng thứ sẽ bị phạt bớt đi nửa lương; hạng liệt thì sẽ không được cấp lương nữa. Người nào bị phạt 3 năm liền thì sẽ phải ra khỏi nhà Tôn học.

Đối với Ấm sinh:

Là con các vị quan được nhà vua ban cho học tại Quốc Tử Giám, hay còn được coi là học sinh loại 3. Sau khi vào Trường Quốc Tử Giám, học một thời gian để được dự thi quốc gia hoặc thi khảo trong trường để ra làm quan. Sau khi thi Hương, hoặc thi Hội mà không trúng, thì vào trường Giám thi lại một lần nữa, nếu trúng thì được giữ lại làm giám sinh và được hưởng quy chế chung. Năm Minh Mạng thứ 1 (1820), vua ban ân chiếu cử quan viên văn võ tam phẩm trở lên, trừ con đẻ của các công thần ở Vọng Các đã được định quan tước ra, còn con của các quan viên tam phẩm trở lên đều được ấm thụ vào học ở Quốc Tử Giám.

Ngoài các Trường học giành cho các đối tượng con vua, hoàng thần, quan lại, ở thành thị và nông thôn đều có các lớp học của các thầy đồ.

Trong triều Nguyễn, tính trung bình trên toàn quốc cứ 2 huyện có 1 trường học quốc lập (trường trung và đại tập), như vậy vào khoảng 5.570 xuất đinh thì có 1 trường học. Điều đó chứng tỏ triều Nguyễn khá quan tâm đến việc giáo dục đào tạo hệ thống quan lại phục vụ bộ máy cai trị, điều hành.Sau đây là bảng tổng hợp kết quả thi cử qua các triều đại :

Triều Lý: tổ chức 6 khoa; có 27 người đỗ; có 4 Trạng Nguyên.

Triều Trần: tổ chức 14 khoa; có 238 người đỗ; có 12 Trạng Nguyên.

Triều Hồ: tô chức 2 khoa; có 200 người đỗ; có 1 Trạng Nguyên.

Triều Lê sơ: tổ chức 28 khoa; có 485 người đỗ; có 20 Trạng Nguyên.

Triều Mạc: tổ chức 22 khoa; có 485 người đỗ; có 13 Trạng Nguyên.

Hậu Lê: tổ chức 73 khoa; có 793 người đỗ; có 13 Trạng Nguyên.

Triều Nguyễn: tổ chức 40 khoa; có 588 người đỗ; nhưng không có Trạng Nguyên.

Tổng cộng : có tất cả 185 khoa thi, 2.906 lần người đỗ, trong đó có 56 Trạng nguyên. Trừ những người thi đỗ 2 lần, nên thực tế có 2.875 người. Riêng nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên.

Nguồn:
- Giáo dục Việt Nam thời cận đại- Phan Trọng Báu- NXB Khoa học và xã hội - 1994.
- Nội các triều Nguyễn: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ- NXB Thuận Hóa- Huế - 1993 (các tập 2, 5, 7).
- Kỷ yếu Hội thảo” Những vấn đề văn hóa- xã hội Việt Nam thời Nguyễn”- NXB Khoa học xã hội- 1992
- Hệ thống giáo dục và khoa cử triều Nguyễn- NXB Chính trị quốc gia- 2011.
- Khoa cử Việt Nam thế kỷ XIX, đầu TK XX- Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội- 1994.

Một đơn vị Quân đội Nhân dân Tiệp Khắc thời hậu Thế chiến II sử dụng pháo tự hành ST-I (Jagdpanzer 38 Hetzer)___Jagdpanz...
31/05/2026

Một đơn vị Quân đội Nhân dân Tiệp Khắc thời hậu Thế chiến II sử dụng pháo tự hành ST-I (Jagdpanzer 38 Hetzer)

___

Jagdpanzer 38 Hetzer là một loại pháo tự hành hạng nhẹ do Nhà máy Škodovy závody - Tiệp Khắc sản xuất cho quân đội Đức trong giai đoạn cuối Thế chiến II, từ cuối năm 1944 cho đến khi chiến tranh kết thúc.
Jagdpanzer 38 Hetzer được thiết kế dựa trên khung gầm của xe tăng Panzer 38(t) và pháo chống tăng Pak 39 L/48. Tên gọi “Hetzer” chỉ được xuất hiện sau Chiến tranh.
Jagdpanzer 38 có khối lượng nhẹ, khả năng cơ động cao, cũng như có hỏa lực đủ uy lực để hạ gục các loại xe tăng hạng trung từ bên hông. Jagdpanzer 38 thích hợp với nhiệm vụ ngụy trang và phục kích đối phương. Mặt trước xe với giáp nghiêng lên đến 60° cũng đủ sức chịu được đạn pháo 75mm của xe tăng Đồng minh.
Jagdpanzer 38 còn được cung cấp cho các đồng minh của Đức cũng như được xuất khẩu sang Thụy Sỹ. Hầu hết Hetzer đã bị phá hủy trong Thế chiến II, các bản còn sống sót lại cho đến ngày nay chủ yếu là Hetzer từng thuộc biên chế của Thụy Sỹ. Chỉ một số ít được khôi phục từ các đơn vị chiến đấu thời thế chiến rồi sau đó phục vụ Quân đội Nhân dân Tiệp Khắc với tên định danh ST-I.

Thông số kỹ thuật:
- Khối lượng: 15,75 tấn
- Dài: 6,38m
- Rộng: 2,53m
- Cao: 2,17m
- Khoảng sáng gầm: 38cm
- Kíp xe: 4 người
- Giáp xe: 60mm (nghiêng 60°) giáp trước, 20mm (nghiêng 40°) giáp thân, 20mm (nghiêng 14°) giáp sau và 10mm trên nóc
- Vũ khí chính: pháo PaK 39 L/48 75mm
- Vũ khí phụ: 1 súng máy 7,92mm MG-34 chống bộ binh
- Động cơ xăng Praga 6 xy-lanh 158hp
- Tầm hoạt động: 180km
- Tốc độ tối đa: 42km/h

Thông số pháo chính:
- Cỡ nòng: 75mm
- Góc nâng: từ -6° đến +12°
- Góc ngang: mỗi bên 4°20'
- Tốc độ bắn: 14 viên/phút
- Tầm bắn tối đa: 7km
- Sơ tốc đầu nòng:
+ Đạn APCBC PzGr.39: 750m/s
+ Đạn APCR PzGr.40: 930m/s
+ Đạn HEAT GrHL.39: 450m/s
+ Đạn HE SprGr.34: 570m/s

(Thông số mang tính chất tham khảo)
Khả năng xuyên phá của APCBC PzGr.39:
- Cự ly 100m, xuyên 135mm thép thẳng đứng
- Cự ly 500m, xuyên 123mm thép thẳng đứng
- Cự ly 1000m, xuyên 109mm thép thẳng đứng
- Cự ly 1500m, xuyên 97mm thép thẳng đứng
- Cự ly 2000m, xuyên 86mm thép thẳng đứng

Khả năng xuyên phá của APCR PzGr.40 (số lượng không nhiều)
- Cự ly 100m, xuyên 176mm thép thẳng đứng
- Cự ly 500m, xuyên 154mm thép thẳng đứng
- Cự ly 1000m, xuyên 130mm thép thẳng đứng
- Cự ly 1500m, xuyên 109mm thép thẳng đứng
- Cự ly 2000m, xuyên 92mm thép thẳng đứng

Khả năng xuyên phá của HEAT GrHL.39:
- Xuyên phá 70mm thép ở mọi cự ly

“PHỤNG THIÊN THỪA VẬN, HOÀNG ĐẾ CHIẾU VIẾT” ĐÚNG HAY SAI?Trong các cốt truyện cổ trang Việt Nam, người Việt thường nghĩ ...
30/05/2026

“PHỤNG THIÊN THỪA VẬN, HOÀNG ĐẾ CHIẾU VIẾT” ĐÚNG HAY SAI?

Trong các cốt truyện cổ trang Việt Nam, người Việt thường nghĩ rằng khi đọc chiếu chỉ của vua đều đọc là Phụng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết; nhưng thật chất đây là sai.

Thứ 1, cách đọc chuẩn phải là “Phụng thiên thừa vận Hoàng đế, chiếu viết” (奉天承運皇帝,詔曰): “Hoàng đế chiếu viết” không phải một. Còn có cách đọc chuẩn khác nữa là “Phụng thiên thừa vận Hoàng đế chiếu viết” (奉天承運皇帝詔曰), tức không có ngắt câu luôn.

Thứ 2, cách mở đầu chiếu chỉ này chỉ bắt đầu khi Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế, thành lập nhà Minh. Như vậy, vua nhà Trần về trước tại Việt Nam không thể nào dùng “Phụng thiên...chiếu viết” được. Vậy họ có khả năng mở đầu câu bằng gì?

Vào nhà Đường và nhà Tống, chỉ mở đầu bằng hai chữ “Môn hạ” (門下, tức “dưới cửa”) hoặc chỉ bằng một chữ “Sắc” (敕, chỉ chiếu thư của vua). Cửa và Sắc ở đây vốn chỉ thừa tướng, vì vào thời đó, chiếu chỉ thường được nơi đó kiểm duyệt rồi mới ban ra. Đến nhà Minh, chiếu chỉ bắt đầu xuất phát thẳng từ vua, từ thiên tử, từ Hoàng đế, nên mới bắt đầu dùng “Phụng THIÊN thừa vận HOÀNG ĐẾ, chiếu viết”.
Vào thời Đường Tống, ít phổ biến hơn là việc bắt đầu chiếu chỉ bằng “Trẫm” (朕). Vào nhà Tống, có một vị muốn khác thường, không dùng “Môn hạ”, mà dùng “Trẫm thiệu ưng tuất mệnh” (朕紹膺駿命) hoặc “Trẫm ưng hạo thiên chi quyến mệnh” (朕膺昊天之眷命).
Với lại, khi nói “chiếu viết” thì cũng phải xem đây là chiếu chỉ gì. Trong lịch sử Á Đông, có nhiều loại chiếu chỉ, như chiếu thư, cáo mệnh, sắc mệnh, sắc dụ, sắc lệnh, dụ lệnh, dụ chỉ, thánh chỉ, hoàng chỉ, thánh phê, thánh lệnh, hoàng lệnh, hoàng bảng, kim bảng, công bảng, sách, thư, phù, và hịch văn. Vì thế mà tuỳ chiếu chỉ mà sẽ có thay đổi, như vào thời Minh, cũng thường xuyên dùng “Phụng thiên thừa vận Hoàng đế chế viết” hoặc “sắc viết”. Vào nhà Minh, luật như sau:

-“Chiếu viết” (詔曰) được dùng khi vua muốn nói với cả thiên hạ, hoặc có đại sự phải nói với quan thần lẫn dân đen.

-“Chế viết” (制曰) được dùng khi vua muốn tỏ hoàng ân, và chỉ nói với quan lại, không nói với dân đen.

-“Sắc viết” (敕曰) có ý cảnh báo; khi cho quan viên tước vị mới, vua sẽ dùng “Sắc viết” cảnh báo quan lại không nên kiêu căng, bất cần, phải kiên trì nỗ lực, không được tự mãn, ngạo mạn.

Nếu chúng ta nghiên cứu lại chiếu chỉ được lưu lại từ nhà Nguyễn, thì sẽ thấy đa số các chiếu chỉ đều bắt đầu với “Thừa thiên hưng vận Hoàng đế, chế viết” (承天興運皇帝制曰). Đây là cách mở chiếu chỉ đặc trưng của Việt Nam, Trung Hàn Nhật đều không có. Nhà Nguyễn còn mở sắc phong bằng duy nhất một chữ “Sắc” (敕), mô phỏng theo Đường Tống.

Trước thời Nguyễn thì ít tìm được chiếu chỉ, nhưng thời Lê Trung Hưng vẫn bảo lưu được vài sắc phong, đều bắt đầu bằng chữ “Sắc” (敕). Khả năng cao là Lê Trung Hưng cũng dùng “Thừa thiên hưng vậng Hoàng đế, chế viết” như nhà Nguyễn, vì nhà Nguyễn đã phần nào học hỏi từ tiền triều. Tương tự, Lê sơ cũng thế.

Lí Trần thì hoàn toàn không có vụ “Phụng thiên thừa vận...viết” rồi, vì câu này đến thời nhà Minh mới xuất hiện. Thời Lí cũng có cơ chế Tam sảnh. Khi hoàng đế có mệnh lệnh, Môn hạ sảnh sẽ đứng ra tuyên và khởi thảo văn bản, Trung thư sảnh sẽ thẩm định văn bản, Thượng thư sảnh sẽ thực thi mệnh lệnh. Do vậy có thể cho là đầu đời Lí cũng có thể thức văn bản “Môn hạ” giống Đường Tống.

Tuy nhiên, đến thời Nhân Tông thì Lí Thường Kiệt, Anh Tông thì Đỗ Anh Vũ trở thành quyền thần, nhà Lí có xu hướng hợp nhất Môn hạ sảng và Trung thư sảnh thành thể chế Trung thư Môn hạ giống Đường Tống, các quyền thần như Lí Thường Kiệt hay Đỗ Anh Vũ sẽ kiểm soát việc ra mệnh lệnh của nhà vua. Chính vì thế nên Lí Nhân Tông mới đặt khoa thi để tuyển Hàn lâm Học sĩ, Hàn lâm học sĩ sẽ đứng ra soạn thảo chế thư hay chiếu thư cho hoàng đế, đến khi đó có khả năng sẽ hình thành loại văn bản “... Hoàng đế chiếu viết”.
Vấn đề là phía trước “Hoàng đế chiếu viết” là gì. Ta có thể có một gợi ý từ ấn của nhà Trần có ấn “Hạo thiên thành mệnh chi bảo” (昊天城命之寶), chữ Hạo thiên thành mệnh ý nghĩa cũng là được Trời (Hạo thiên) cho làm vua, tương tự những câu như “Phụng thiên thừa vận” hay sau này đầu Lê sơ là “Đại thiên hành hoá” (代天行化).

Như vậy có thể suy đoán rằng có thể Lí Trần đã từng sử dụng thể thức “Hạo thiên thành mệnh hoàng đế chiếu viết” (昊天城命皇帝詔曰). Đương nhiên đây là suy đoán dựa trên một số cơ sở thôi, cần kiểm chứng thêm về tư liệu.

Chúng ta cũng có thể suy đoán rằng chiếu chỉ nhà Trần trở về trước đều mô phỏng Đường Tống, sử dụng “Môn hạ”, “Sắc”, hoặc “Trẫm”.

Còn lí do vì sao cổ trang Việt toàn đi dùng "Phụng thiên thừa vận Hoàng đế, chiếu viết"? Xin thưa là vì lậm điện ảnh Hoa ngữ ạ.

(Nễu có gì sai sót xin nhắc nhở ạ)
--------------------
Nguồn: https://kknews.cc/history/e4zgk4z.html
https://www.rujiazg.com/article/17205

(https://www.facebook.com/groups/Vietnam.ancient/permalink/4226803387407848/)

Theo Kiet T Tran - Đại Việt Cổ Phong

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84965898661

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự:

Share

Category