04/10/2026
Những nhân tài của triều đại nhà Lý sau thời kỳ hoàng kim
1. Lý Công Bình (?-?)
Ông chủ yếu được biết đến qua hai lần đánh bại quân Chân Lạp năm 1128 và năm 1137.
Theo sử sách, tháng 1 (ÂL) năm 1128, nhân lúc Lý Nhân Tông vừa băng hà,Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi khi mới 12 tuổi, Suryavarman II thừa nước đục thả câu, mượn gió bẻ măng ,cho 2 vạn quân sang tấn công bến Ba Đầu thuộc châu Nghệ An.Triều đình nhà Lý cử Nhập nội Thái phó Lý Công Bình điều động đô quan chức đi đánh dẹp. Đến tháng 2 (ÂL), Lý Công Bình đại phá quân Chân Lạp, gửi thư báo thắng trận về kinh thành Thăng Long. Lý Thần Tông đến ccung Thái Thanh, Cảnh Linh và chùa quán trong thành để lễ tạ ơn Phật và Đạo đã giúp ngầm cho Công Bình đánh được người Chân Lạp. Đến tháng 3 (ÂL), Lý Công Bình về kinh thành, dâng số tù nhân bắt được là 169 người.
Sau đó Suryavarman II còn 2 lần tấn công đất Nghệ An của Đại Việt (tháng 8 năm 1128 và năm 1132) nhưng đều bị đánh bại và đến năm 1135, Chân Lạp buộc phải triều cống Đại Việt trở lại. Cuối năm 1135 và năm 1136, đại thần nhà Lý là Trương Bá Ngọc (Lê Bá Ngọc), Lưu Khánh Đàm, Dương Anh Nhĩ lần lượt qua đời, Mâu Du Đô thì bị bãi chức, triều đình nhà Lý mất đi nhiều trụ cột. Tháng 1 (ÂL) năm 1137, Suryavarman II lần thứ tư đem quân sang đánh Đại Việt, cho tướng Tô Phá Lăng tấn công Nghệ An. Lý Công Bình khi đó đang giữ chức Thái úy được cử đi đánh dẹp và lại giành chiến thắng.
Sử sách không ghi chép gì về việc phong thưởng sau khi thắng trận nên em đoán là Hoàng đế Lý Thần Tông ko có phong thưởng.
2. Trương Bá Ngọc ( Lê Bá Ngọc)
Ông trải thăng Hữu Thị lang bộ Lễ vào đời Lý Nhân Tông, sau bị truất thành chức Nội hỏa Thư gia,theo Lịch triều hiến chương loại chí thì ông bị bãi chức vào năm Long Phù (1101-1109) và theo Việt sử thông giám cương mục là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9, tức năm 1118. Lê Bá Ngọc được gia chức Nội thường thị vào năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121), đến năm 1124 thì làm Thị lang bộ Lễ.
Năm 1126, ông được sai đi đánh dẹp người Nùng làm phản ở châu Quảng Nguyên. Năm sau, khi đến Quảng Nguyên thì quân làm phản chạy sang nước Tống, theo Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Bá Ngọc đã đặt ra phép tắc nhằm ràng buộc dân ở biên giới rồi kéo quân về
Tháng chạp năm Đinh Mùi, tức năm 1127, ông được vua truyền di mệnh cùng Lưu Khánh Đàm đưa thái tử, tức vua Lý Thần Tông lên ngôi.
Khi vua Lý Thần Tông lên ngôi Lê Bá Ngọc được sai truyền dụ cho vương hầu và quan lại
Ngày Tân Sửu tháng 1 năm Thiên Thuận thứ nhất (1128), ông được thăng làm Thái úy, tước hầu và được ban thưởng tiền lụa do có công phò lập. Tháng 11 âm lịch cùng năm ông được Hoàng đế thêm chức Thái sư và cho đổi họ thành họ Trương, theo họ của Ngọc Hoàng.
( Nếu em nhớ không nhầm trong Phong Thần diễn nghĩa có nói Ngọc Hoàng vốn là người phàm trần tên Trương Hữu Nhân được Tam Thanh tôn lên làm Ngọc Hoàng Thượng Đế)
Trương Bá Ngọc mất năm Thiện Thuận thứ 3, tức năm 1130,ko rõ hưởng thọ bao nhiêu tuổi.
3. Lưu Khánh Đàm (?-1136)
Theo Đại Nam nhất thống chí, Lưu Khánh Đàm là người thôn Yên Lãng, quận Cửu Chân (xã Xuân Tín, tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Cuối đời, ông về sống ở huyện Hưng Nhân (Hưng Hà, Thái Bình ngày nay) và qua đời tại nơi này.
Đến cuối thời Lý Nhân Tông, Lưu Khánh Đàm giữ chức Thái úy. Tháng 12 năm 1127, Nhân Tông ốm nặng, trước khi băng hà đã triệu kiến Lưu Khánh Đàm vào cung để phó thác. Năm 1128, Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi vua, tức Lý Thần Tông, cho Lê Bá Ngọc thay ông làm Thái úy. Đến năm 1129 thì lại trở lại chức cũ.
Tuy ko rõ công lao nhưng chắc chắn từng giữ chức Thái úy thì ông hẳn phải rất giỏi giang !
Ông thì được Đại Việt sử ký toàn thư chép đến hai cái chết. Có thể cái chết thứ hai của ông thực ra là cái chết của em trai ông, Lưu Ba (1161) , một vị đại thần cũng mờ nhạt như ông.
4. Mậu Du Đô ( Mậu Đô Du )
Cuối năm 1120, ông được Lý Nhân Tông phong làm Nội thường thị. Năm năm sau, Mâu Du Đô được Lý Nhân Tông phong làm Trung thư thừa, coi việc trong cung. Ba năm sau tức năm 1128, Mâu Du Đô được phong làm Gián nghị đại phu, thăng trật chư vệ. Ông được tham gia việc quân sự, và được Hoàng đế sai đi chọn quân Long Dực cũ làm quân tả hữu Ngọc Giai, Hưng Thánh, Quảng Thành, Vũ Đô. Tháng 5 năm ấy ,ông được sai đến phủ Thiên Đức chọn đất tốt để xây sơn lăng của Lý Nhân Tông. Đến tháng 8, ông lại được giao nhiệm vụ cùng Thái úy Lưu Khánh Đàm và chọn quan chức đô.
Năm 1131, Mâu Du Đô được Lý Thần Tông sai trấn thủ châu Nghệ An. Đến tháng 9 năm 1136, Mâu Du Đô bị bãi chức.Tháng 8 năm 1145, Thái sư Mâu Du Đô cùng Phò mã Dương Tự Minh cầm quân đi dẹp cuộc nổi dậy của thủ lĩnh Đàm Hữu Lượng ở vùng biên giới, đánh bại được Hữu Lượng khiến Hữu Lượng phải bỏ trốn, bị quan nhà Tống dụ về nước giết chết.
Tháng 3 năm 1146, Mâu Du Đô qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Ông tham gia chính trường hơn 25 năm, trải qua ba đời Hoàng đế thì mất.
5. Dương Anh Nhĩ (?-1136)
Dương Anh Nhĩ từng giữ chức Nội nhân hỏa, đầu thời Lý Thần Tông được phong làm Thái phó Đại liêu ban, sau được thăng làm Thái úy.
Giữa năm 1132, quân Chăm Pa và Chân Lạp đến cướp phá châu Nghệ An, Dương Anh Nhĩ được cử đi cùng với quân ở phủ Thanh Hóa, châu Nghệ An đi đánh giặc và toàn thắng trở về
6. Đỗ Anh Vũ (113-1159)
Năm 1135, Lý Thần Tông cử ông theo Thái phó Lý Công Bình đi đánh dẹp quân Chân Lạp ở phía Nam châu Nghệ An và đại thắng trở về.
Năm 1136, ông được cử đi dẹp quân Sơn Liêu. Quân Sơn Liêu cậy chỗ hiểm trở mà nhiều năm không cống nạp. Thần Tông sai ông cùng nhiều tướng đem quân đi đánh, nhưng chỉ riêng Đỗ Anh Vũ là người chiến thắng liên tiếp, vì thế người người đều trổ hết sức mạnh để đánh giặc. Từ ấy về sau, triều đình của Lý Thần Tông rất tin tưởng ông, chuyện gì cũng đều ủy thác cho ông cả.Sau Đỗ Anh Vũ chấn chỉnh triều cương, trăm quan khép mình mà nghe lệnh; sửa sang chính trị. Hoàng thái hậu thấy Thái úy có nhiều công lao, có lòng trung tiết, bèn thăng chức Đỗ Anh Vũ lên chức Kiểm hiệu Thái phó.
Năm 1138, Đỗ Anh Vũ được phong làm Phụ quốc Thái úy và được ban quốc tính. Vì vậy có tài liệu chép tên ông là Lý Anh Vũ. Cùng trong năm 1138, Thân Lợi tự xưng là con của Lý Nhân Tông, chiếm cứ châu Thượng Nguyên để làm phản, thủ hạ đông hơn 1000 người. Quan Gián nghị Đại phu Lưu Vũ Xứng được lệnh đi dẹp nhưng bị Thân Lợi bón cho một rổ hành.
Thân Lợi vừa mới thắng , đã ảo tưởng sức mạnh liền kéo binh ra chiếm cứ châu Tây Nùng, đánh phá phủ Phú Lương, sắp tiến về kinh thành Thăng Long. Thái úy Đỗ Anh Vũ được lệnh đi đánh. Ông đem quân đến Quảng Dịch thì đụng độ với quân Thân Lợi và Đỗ Anh Vũ đã khiến cho quân Thân Lợi thua to, bị chết rất nhiều. Thân Lợi phải chạy trốn ở châu Long Lệnh.Thái úy Đỗ Anh Vũ tiến đánh châu Long Lệnh, phá được châu này, bắt được hơn 2000 người. Thân Lợi chạy trốn đến Lạng Châu, bị Tô Hiến Thành tóm gọn, đưa về kinh sư xử chém.
Nói chung là ông đúng kiểu con nhà người ta: vừa có thân phận khủng đúng kiểu COCC đời đầu; vừa giàu có lại vừa có mặt đẹp và có tài năng, chẳng qua ngoại tình với Linh Chiếu Thái hậu Lê Thị, mẹ Hoàng đế Lý Anh Tông với lại nhiều khi hơi hống hách, tự cao nên bị xem thường thôi chứ thực tế, ông này cũng giỏi mà !
7. Tô Hiến Thành (1102-1179 )
Tô Hiến Thành 11 tháng 2 năm 1102 - 17 tháng 7 năm 1179) quê làng Hạ Mỗ tức là xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng cũ sau này. Về tài năng thì ông này có thể nói là giỏi một cách toàn diện từ văn đến võ. Nói về sự nghiệp làm tướng của ông. Sự nghiệp làm tướng võ của ông chủ yếu là dưới thời trị vì của Hoàng đế Lý Anh Tông.
Năm 1140, Thân Lợi tự xưng là con trai Lý Nhân Tông và nổi loạn chống vua Lý Anh Tông ở khu vực phía bắc (nay là Thái Nguyên). Quân của Thân Lợi cuối cùng đã bị quân nhà Lý do Đỗ Anh Vũ chỉ huy đánh tan, Thân Lợi bị Tô Hiến Thành bắt và bị chém đầu theo lệnh của Lý Anh Tông tháng 10 năm 1141.Chính Tô Hiến Thành đã khuyên nhà vua tha chothành viên tham gia nổi loạn để tỏ lòng nhân ái đối với dân chúng.Thái úy Tô Hiến Thành còn cùng Hoàng đế Lý Anh Tông đi dẹp loạn khắp nơi, mở mang bờ cõi thêm về phía Tây bắc. Sự nghiệp võ công của ông còn hiển hách hơn thế nữa khi ông đã đánh lui nhiều cuộc xâm lược của bọn Chân Lạp ; chinh phạt Chiêm Thành .
Sự nghiệp làm quan văn của ông cũng hiển hách không kém cạnh gì sự nghiệp võ công nhưng phần lớn công lao lại tập trung ở giai đoạn cuối đời.Ở giai đoạn trước khi qua đời, công lao của ông chủ yếu liên quan đến an sinh xã hội là chính. Ông thời điểm này thường tổ chức khai hoang lấn biển ở một số vùng ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa và Hà Tĩnh ngày nay, đặc biệt đối với vùng đất ven biển Hải Dương nay là Vĩnh Bảo - Hải Phòng ( sau sáp nhập).Cuối đời ông làm đến chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự ( chức này chắc cũng tương đương với chức Thừa tướng và Tể tướng nhỉ ? )
8. Dương Tự Minh (?-?)
Trong vòng 23 năm, từ năm 1127 đến năm 1150 Dương Tự Minh đã được nhiều bộ chính sử cổ truyền, từ “Đại Việt sử lược”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt sử ký toàn biên”… đến “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Việt sử cương mục tiết yếu”… ghi chép năm lần, và gắn bó với bốn sự kiện lịch sử lớn là:
• Tháng 10 năm 1142: Từ Phú Lương, Thái Nguyên, được triều đình phái đi Quảng Uyên, Cao Bằng để “chiêu tập” người đất ấy, sau cơn xiêu giạt vì bị quân Tống chiếm đóng (năm 1076) và phải đấu tranh gay go, chúng mới chịu trả đất lại (năm 1179);
• Tháng 8 năm 1143: Được ban chiếu, cho thay mặt triều đình “cai quản việc công ở các khe động suốt dọc biên giới trên bộ”;
• Tháng 8 năm 1145: Được cử làm tướng đi đánh Đàm Hữu Lượng khiến bọn giặc Hữu Lượng đang từ nước Tống sang quấy phá vùng biên giới phía bắc, cướp đất Quảng Uyên; phải thua trận.
• Tháng 9 năm 1150: Tham gia vụ phế truất kẻ quyền thần và loạn thần Đỗ Anh Vũ ở triều đình Thăng Long. Đến cuối năm 1150 thì bị Đỗ Anh Vũ (nhờ hối lộ và bè đảng bao che nên thoát tội) phản kích “bắt đi đầy ở nơi xa độc”.
9. Lưu Ba ( em trai Lưu Khánh Đàm )
Theo sách Đại Nam nhất thống chí, Lưu Ba là em trai của Thái úy Lưu Khánh Đàm. Hai anh em quê ở thôn Yên Lãng, quận Cửu Chân (nay thuộc xã Định Tân, tỉnh Thanh Hóa).Cũng theo nguồn trên, Lưu Ba từng tham gia đánh Tống ở sông Phú Lương (tức sông Cầu, còn gọi là Như Nguyệt), điều này chứng tỏ rằng ông đã tham gia cuộc chiến bảo vệ phòng tuyến sông Như Nguyệt cùng với Lý Thường Kiệt vào 1077.
Cuối thời Lý Nhân Tông, Lưu Ba giữ chức Nội nhân Hỏa đầu.Năm 1128, Lý Nhân Tông băng hà, Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi, tức Lý Thần Tông. Lưu Ba cùng Dương Anh Nhĩ từ Nội nhân Hỏa đầu được thăng chức Thái phó, trở thành quan đầu triều chỉ dưới quyền mỗi Thái úy Lê Bá Ngọc. Ông lại được xét công lao chống Tống mà được ban tước Quốc Công.Lúc về già, ông cho dựng một ngôi chùa ở trong xã, được Hoàng đế ban cho tên là chùa Báo Quốc.
10. Nguyễn Nhữ Mai (?-? )
Mặc dù, ông chủ yếu được biết đến nhờ công lao cùng phò mã Dương Tự Minh và Quản quân sứ là Lý Nghĩa Vinh đi đánh Đàm Hữu Lượng, nhưng để được bắt cặp với hai người này đi đánh trận đương nhiên, ông cũng phải rất giỏi.
11. Lý Nghĩa Vinh (?-?)
Mặc dù, thông tin về ông còn mơ hồ hơn cả đề thi đại học, nhưng được biết ông giữ chức Quản quân sứ. Đây là một chức quan võ cấp cao dùng để trực tiếp quản hạt, huấn luyện hoặc chỉ huy đơn vị quân đội của triều đình nhằm xiết chặt an ninh trật tự. Ngoài ra, chức này còn dùng để áp giải tù binh hay tội phạm hoặc dùng để giữ gìn trật tự biên ải.Được giữ chức này cho thấy ông hẳn phải rất giỏi vì dù gì đây cũng đâu phải là một chức hạng xoàng !
12. Phạm Bỉnh Di (?-1209)
Ông chủ yếu được biết đến nhờ công lao đánh dẹp Đoàn Thượng và Phạm Du làm loạn.
Tháng 3 năm 1207, hào trưởng ở Hồng Châu (thuộc Hải Dương và Hải Phòng ngày nay) là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ( Đoàn Văn Lôi) nổi dậy, xây thành đắp lũy, xưng vương hiệu. Cao Tông phái rất nhiều quân đi đánh Hồng Châu, trong đó có cánh quân của Phạm Bỉnh Di là quân đạo Khả Liễu. Thấy thế lực quân triều đình mạnh không chống nổi, Đoàn Thượng liền ngầm sai người đem của cải đút lót cho quan Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du, xin triều đình rút quân về. Phạm Du bèn xin với Cao Tông tha cho Đoàn Thượng. Lý Cao Tông ngu ngơ chấp thuận và hạ lệnh cho Bỉnh Di cùng cánh quân của nhiều tướng quân khác rút về.
Đầu năm 1209, Cao Tông sai Phạm Du coi việc quân ở châu Nghệ An. Nhân lúc miền này vừa bị nạn đói lớn, dân chúng phiêu tán khắp nơi, Phạm Du liền xin vua cho mình được tự lập một lực lượng riêng để phòng vệ khi bị bọn gian tặc đánh cướp. Được Cao Tông chấp thuận, Phạm Du chiêu tập lực lượng để họp binh đi cướp phá khắp nơi. Cùng lúc ấy, ực lượng nổi loạn khác cũng chiếm cứ nhiều nơi, khiến đường sá bị cắt đứt, thuyền bè không đi lại được. Cao Tông thấy tình hình nguy cấp liền sai Phạm Bỉnh Di lấy quân ở Đằng Châu (thị xã Hưng Yên) để đánh Phạm Du. Phạm Du bị Bỉnh Di đánh bại, phải chạy về Cổ Miệt cùng với Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ở Hồng Châu để hợp binh đánh lại quân Đằng Châu của Bỉnh Di. Bỉnh Di bị thua.
Tháng 2 năm 1209, Bỉnh Di lại đem binh ở Đằng Châu, Khoái Châu đi đánh Du. Phạm Du thua trận bỏ trốn lên Hồng Châu. Bỉnh Di tịch biên gia sản của Du rồi đốt hết. Vì thế, Phạm Du lại càng thù Bỉnh Di hơn. Phạm Du ngầm sai người về kinh đút lót cho bọn quan lại trong triều, để vu khống rằng Bỉnh Di tàn ác, giết hại người vô tội và kể lể tình oan ( ừ thì Phạm Du oan thật ! Oan Thị Mầu ! Đã hãm hại người tài,sau còn đi ngoại tình với vợ người ta nữa ! )
Đến tháng 4 , cùng năm , Phạm Bỉnh Di đánh tan quân Đoàn Thượng và Đoàn Chủ, Đoàn Chủ bị đâm chết. Dù Bỉnh Di đã lập được đại công, nhưng Cao Tông lại tin lời xàm tấu của Phạm Du nên sai người triệu cả Bỉnh Di và Phạm Du về kinh. Phạm Du về kinh trước chầu Cao Tông, lấy lời lẽ vu khống, gian xảo để làm vừa lòng Hoàng đế thế mà lại được Hoàng đế tin cẩn.
Tháng 7 năm ấy, Bỉnh Di về đến kinh sau, rồi vào triều phụng mệnh. Có người can ông không nên vào vì đã bị Phạm Du gièm pha, nhưng Bỉnh Di cho rằng:
" Tôi thờ chúa thượng hết lòng trung thành mà lại bị người ta gièm pha chăng ? Huống chi có mệnh lệnh của vua, tôi còn biết chạy đi đâu? "
Ông cùng con là Phạm Phụ vào cung. Cao Tông liền sai bắt Bỉnh Di và Phạm Phụ giam ở Thủy Viên, toan làm tội.Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin cha con Bỉnh Di bị bắt, bèn đem binh lính phá cửa Đại Thanh kéo vào nội điện để cứu chủ. Trong lúc quân Quách Bốc và quân triều đình đang giằng co ngoài cửa, Cao Tông thấy hoảng hốt nên liền sai giải Bỉnh Di và Phụ vào chỗ bệ đá nghỉ mát trong điện Kim Tinh. Phạm Du cùng em là Phạm Kinh ở trong ngự đường đi ra, lấy luôn mấy cây hàng trong cung đâm chết cha con Bỉnh Di rồi cùng Cao Tông bỏ kinh thành Thăng Long chạy trốn.
Quách Bốc đã đưa quân vào được thành Thăng Long thì nghe tin chủ bị giết bèn sai quân sĩ đột nhập vào chỗ bệ đá trong điện Kim Tinh. Lúc ấy,Cao Tông và anh em Phạm Du đã chạy trốn. Quách Bốc sai quân lấy xe ngự chở xác Bỉnh Di, lấy chiếu ngự bọc xác của Phụ, theo cửa Việt Thành khiêng xuống bến Triều Đông an táng.
13. Đỗ Kính Tu (1152-1216)
Đỗ Kính Tu sinh năm 1152, tuy vậy trên tấm bia ghi tiểu sử được đặt nơi mộ thành hoàng Đỗ Kính Tu, lại thuật cho rằng ông sinh năm 1172 (Nhâm Thìn) tại làng Hậu Ái.Hậu Ái từng là một thôn thuộc tổng Phương Canh, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay là xã Sơn Đồng, thành phố Hà Nội (trước năm 2025 tức là trước sáp nhập thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức).
Bởi sự ham học, 13 tuổi ông đỗ tú tài kỳ thi hương; 18 tuổi khi triều đình mở khoa thi võ, ông trúng tuyển bậc võ quan; 23 tuổi ông đỗ đầu khoa thi tam giáo được phong Hàn Lâm Viện Đại Học Sỹ. Năm 1175, cuối đời Lý Anh Tông, Đỗ Kính Tu được thăng chức Lịch điển khu tào, cùng Thái úy Tô Hiến Thành phụ chính trông coi việc nước. Dành cho ai chưa biết, Phối hợp cùng các tể tướng, đại thần nắm giữ việc triều chính cốt lõi ở trung ương.Sau này, các vị giữ chức này thường được kiêm nhiệm thêm vai trò giáo dưỡng hoàng gia (như Đế sư - thầy dạy vua),lo việc ổn định phép tắc trị dân )
Sau khi Thái úy Tô Hiến Thành qua đời, ông cùng nhiều trung thần chèo chống giữ vững cơ đồ nhà Lý, được phong đến chức Thái bảo phụ quốc, Thái phó, rồi Thái úy.
Cuối thời Lý, vùng Đại Hoàng nổi dậy chống triều đình do Phí Lang cầm đầu. Năm 1204, Đỗ Kính Tu được sai đem quân tới đánh dẹp. Triều đình không giành được thắng lợi, vùng Đại Hoàng vẫn trong tình trạng ly khai trung ương tới tận thời Trần. Theo thần tích, Đỗ Kính Tu biết Phí Lang vốn là quan quân, do bất mãn với gian thần Đàm Dĩ Mông nên mới nổi dậy, thành ra ông chỉ mang quân đánh lấy lệ rồi cho lui về.
Năm 1210, trước khi chết ,Lý Cao Tông cho gọi Đỗ Kính Tu để ký thác.Lý Cao Tông chết, Đỗ Kính Tu phò Thái tử Sảm lên ngôi, tức vua Lý Huệ Tông, vì vậy được ban quốc tính, nên còn gọi là Lý Kính Tu. Tuy nhiên, quyền lực sau ấy lại rơi vào trong tay cậu cháu nhà Tô Trung Từ Trần Tự Khánh. Cuối đời, ông bị gian thần hãm hại đã uất ức mà nhảy xuống sông tự vẫn.
14. Ngô Lý Tín (1126-1190 )
Ngô Lý Tín sinh ngày 20 tháng 1 năm Bính Ngọ (1126) và mất ngày 9 tháng 10 năm Canh Tuất tức năm 1190. Cha là Ngô Huy Hiếu, mẹ là Đào Thị Phúc quê trang Vĩnh Đồng, huyện Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên)
Trước nguy cơ đó, Ngô Lý Tín đã tập hợp học trò và trai tráng trong vùng luyện tập binh mã, xin triều đình được đánh giặc cứu nước. Vua phong Ngô Lý Tín làm Thượng tướng quân, sai đi dẹp giặc cướp và đi dẹp giặc quấy nhiễu vùng biên cương, ông đã lập được nhiều chiến công. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Năm Nhâm Dần (1182) triều đình cử Ngô Lý Tín đem quân thủy bộ đi tuần bắt trộm cướp”. Cũng theo Toàn Thư:" Mùa xuân năm Quý Mão (1183), triều đình lại “cử Ngô Lý Tín làm đô đốc tướng ( sách Đại Nam Nhất thống chí hình như viết là Thượng tướng quân) đi đánh Ai Lao " (Sđd, T1, tr.328 )
Theo tương truyền, khi đem quân đi đánh giặc ở khúc sông Quán Trang cửa sông Văn Úc, sau khi chiến thắng trở về, Ngô Lý Tín cùng đoàn tùy từng đang xuôi thuyền trên dòng, không may gặp cơn bão lốc, thuyền của ông bị lật, cả đoàn tử nạn, thi thể ông trôi dạt vào thôn Cẩm Khê.Nhân dân Cẩm Khê nghe tin ông mất vô cùng thương tiếc, đã an táng thi thể ông gần nơi tử nạn, rồi dâng sớ về triều. Nhà vua hay tin rất xúc động, bèn sai đem 500 lạng vàng, 1000 lạng bạc và truyền chiếu chỉ cho lập đền thờ tại địa phương để nhân dân quanh năm thờ phụng ( tức là Đền Gắm )ban tặng sắc phong cho Thái phó Ngô Lý Tín với mỹ tự: “Thượng đẳng phúc thần, vạn cổ huyết thực”.
Dân gian tại địa phương còn lưu truyền câu ca dao:" Thứ nhất Đền Bì, thứ nhì Đền Gắm " .
15. Đàm Dĩ Mông ( em trai An Toàn Thái hậu Đàm Thị, tức là cậu của Lý Huệ Tông )
Ông nổi tiếng là kẻ thiếu học thức. Được cái là cũng có một số công lao khá đáng kể. Công lao đầu tiên phải nói đến công lao hạn chế Phật Giáo. Về tình hình nhà Lý lúc này, Phật Giáo càng ngày càng bại hoại. Đàm Dĩ Mông từng viết bài " : Phán Tăng Đồ " nói về sự bại hoại Phật giáo ở nước ta thời Lý Cao Tông như sau:
" Phương kim tăng đồ phả dữ dịch phu tương bán. Tự kế bạn lữ, vọng lập sư tư, tụ loại quần cư, đa vi uế hành. Hoặc ư giới trường tịnh xá công hành tửu nhục, hoặc ư thiền phòng tịnh viện tư tự gian dâm. Trú phục dạ hành, hữu như hồ thử.
Bại tục thương giáo, tiệm tiệm thành phong. Thử nhi bất cấm, cửu tất tư thậm. "
Tạm dịch ( bản dịch này em sưu tầm từ bản dịch của một bạn tên là Phạm Tú Châu, một dịch giả trên trang web thơ Thi Viện) :
" Hiện nay, số sư sãi đã gần ngang với số phu dịch. Tự kết bè lũ, lập càn thủ lĩnh, tụ họp thành bầy, làm nhiều việc xấu. Hoặc ở nơi giới trường, tịnh xá mà công nhiên rượu thịt; hoặc ở chốn tăng phòng, tịnh viện mà tiêng tự gian dâm. Ngày ẩn tối ra, như phường cào chuột.
Bại hoại phong tục, phương hại giáo lý, dần dần đã thành thói quen. Nay không cấm đi, lâu ngày càng tệ. "
Em lại sưu tầm được một bản dịch khác nhưng ko hiểu vì sao bác ấy lại dịch thành thơ lục bát:
Hiện nay sư sãi bằng phu.
Lập càn thủ lĩnh kết thu lũ bè.
Thành bầy tụ họp hội hè,
Làm nhiều việc xấu chẳng hề ăn năn.
Giới trường tịnh xá thịt ăn,
Tăng phòng, tịnh viện riêng dâm tự nhà.
Chuột chồn ngày ẩn tối ra,
Bại phong hoại tục, thật xa Phật thầy.
Dần dần thành thói quen ngay.
Nếu nay không cấm lâu ngày tệ hơn.
( Lương Trọng Nhàn cũng là một dịch giả trên trang web thơ Thi Viện )