31/05/2026
HỆ THỐNG GIÁO DỤC & THI CỬ TRIỀU NGUYỄN
Về nhà học của vua: Năm 1810, vua Gia Long cho dựng điện Dưỡng Tâm để làm nơi đọc sách của vua. Năm 1821, vua Minh Mệnh cho xây thêm điện Trí Nhân Đường để đọc sách và sáng tác. Năm 1887, vua Đồng Khánh cho xây Thái Bình Ngự Lãm Thư Lâu làm nơi cất giữ và đọc sách. Năm 1919, vua Khải Định cho sửa lại đặt tên là Thái Bình Lâu. Đây là những nơi chỉ để cho vua học và đọc sách. Xem lại những điều đó, thì các vua triều Nguyễn đều khá coi trọng việc đọc sách và nâng cao kiến thức của mình dù họ đã ở tột đỉnh của quyền lực và vinh hoa.
Theo sử sách ghi lại: vào năm Tự Đức thứ 1(1848), nhà vua cho mở lại tòa Kính Diên, tức Viện Tập Hiền để nghe giảng bài. Mỗi tháng, vua học 6 ngày, nghỉ học vào tháng 2. Quan phụ trách gồm 2 giảng quan, 6 nhật giảng quan thị độc học sĩ hoặc thị giảng học sĩ, thị độc hoặc thừa chỉ, trước tác hoặc tu soạn (mỗi chức quan 4 người) và 4 người phục vụ bút thiếp. Các giảng quan phải soạn bài và giảng cho vua nghe. Khi nghe giảng, vua có thể góp ý hoặc cùng bình giảng.
Về Giảng đường: (Tập thiện đường) Dưới triều Nguyễn, Giảng đường được lập từ năm Gia Long thứ 16 (1817). Đây là nơi để dạy dỗ các hoàng tử, thái tử con vua. Đối tượng học là những người tương lai sẽ trị vì đất nước nên việc tuyển thầy dạy học ở các Giảng đường rất được vua coi trọng. Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) vua có lời dụ: "Không cứ là quan trong hay quan ngoài, cốt được người vốn có học hạnh, giữ lấy công chính…đợi ta chọn dùng để ngày thường thay ta dạy bảo bọn hoàng tử ngày ngày chăm chỉ việc học, thường gần người trung chính, đôn đốc khuyến khích hiếu đễ, mài rũa rèn luyện cho tiến bộ để cho sự học và bản chất tốt cũng đưa đến kết quả đạo đức ngày càng tấn tới, để sẵn cho kén chọn vào địa vị làm chủ tể nối dòng dõi ngày sau, thì nghiệp lớn nước nhà được lâu, nền thịnh trị được bền vững” (Theo “Nội các triều Nguyễn: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ”- NXB Thuận Hóa- Huế- 1993 (tr.113 tập 2).
Triều đình cũng quy định số người phụ trách việc giảng dạy cho các Hoàng thân, Hoàng tử, Hoàng đệ, Thái tử dưới các triều vua như sau: Sư bảo 1 người, giáo đạo 1 người, tán thiệp từ 2 đến 4 người, giảng tập từ 2 đến 20 người, chính tự từ 4 đến 10 người. Ty tùy biện chánh cửu phẩm thư lại 1 người, vị nhập lưu thư lại 4 người.
Về Sở Tôn học: (còn gọi là Tôn học đường) là trường học giành cho những người trong tôn thất. Tôn học đường được bố trí: 1 hoàng thân công đôn đốc, 2 hàn lâm viện thị giảng học sĩ làm tổng quản, 1 thị giảng học sĩ, 1 thị độc, 1 chánh cửu phẩm thư lại, 2 vị nhập lưu thư lại. Những người này sau 3 năm sẽ đổi lại 1 lần. Các học quan ở đây , một phần được tuyển từ các học sinh của Quốc Tử Giám.
Về Quốc Tử Giám: Năm Gia Long thứ 2 (1803), nhà vua cho dựng trường Quốc học ở Kinh đô Phú Xuân (Huế) và xuống chỉ đặt 1 quan đốc học, 1 trợ giáo. Đến đời vua Minh Mệnh thứ 2, trường đổi tên thành Quốc Tử Giám. Triều đình còn xây thêm Giảng đường, Di luân đường và 2 học xá ở hai bện tả, hữu; biến nơi đây thành trung tâm giáo dục Nho giáo của nhà nước.
Nối tiếp truyền thống giáo dục khoa cử của thời Lê, Vua Gia Long rất đề cao Nho học, ông cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở kinh thành Huế để dạy cho các quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan. Cũng trong năm này, Gia Long cho ban hành hai đạo dụ về việc mở các trường ở các tỉnh, ấn định nhân viên giáo giới và chương trình học chế đồng thời tái lập lại các khoa thi ở các trấn. Ở mỗi trấn có một quan Đốc Học, một phó Đốc Học hay Trợ Giáo. Cứ tháng 10 hàng năm triều đình mở một kỳ thi. Theo thông lệ cứ ba năm triều đình mở khoa thi Hương ở các địa phương. Những người trúng cao ở khoa thi Hương gọi là cử nhân, trúng thấp gọi là tú tài. Năm sau ở Kinh đô mở khoa thi Hội tại bộ Lễ, những cử nhân năm trước khi ứng thí, nếu trúng cách thì được tiếp tục thi Đình ở trong điện nhà vua để lấy các bậc Tiến sĩ.
Trong dân chúng, việc học tập có tính chất tự do hơn. Bất kỳ người nào có học lực kha khá cũng có thể mở trường tư thục để dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học. Theo ông Trần Trọng Kim thì người Việt Nam vốn chuộng sự học, cho nên người đi học cũng nhiều. Dù vậy, việc học tập càng lúc càng thoái hóa. Nhiều người học chỉ để ra làm quan. Trần Quý Cáp, đậu tiến sĩ khoa Giáp Thìn 1904 có mở trường dạy học ở thôn Thái Lai, làng Bất Nhị, Quảng Nam, có tiếng là hay chữ nên học trò theo học đông lắm. Nhà văn Phan Khôi từng theo học Trần Quý Cáp 10 năm từ năm 9 tuổi đến 19 tuổi sau ghi lại trường học thời đó như sau: Cái nhà ba gian, hai chái, sườn bằng gỗ, rộng lòng căn. Trong nhà trừ ba gian bàn thờ và một cái buồng ở góc, còn thì liệt ván cả. Một bộ ván cao ở giữa là chỗ thầy ngồi; còn bao nhiêu ván thấp, cho học trò... Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh Thi, truyện Luận Ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh Dịch, truyện Mạnh Tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp. Thầy ngồi yên rồi dưới này một trò nào chẳng hạn chiếu theo ngày mà mở ba cuốn sách nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý[2] trước mặt thầy. Đọc đi! Thầy truyền... Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghĩa. Trường của Trần Quý Cáp hàng ngày có 150 - 200 học trò đến "nghe sách". Ngoài ra có những người không đến nghe giảng nhưng khi thầy ra đầu bài thì cũng làm bài nộp vào để thầy chấm, con số lên đến non 100.
Trẻ con muốn nhập học thì thường mang xôi, gà đến biếu thầy và làm lễ khai tâm, cúng Khổng Tử để xin làm đệ tử.
Ở những làng giàu có thì một phần công điền gọi là "học điền" có thể được dùng để lấy tiền gạo nuôi thầy đồ trong làng, còn ở những làng không có phương tiện thì chỉ nhà giàu mới có tiền cho con theo học mà thôi. Mỗi năm vào hai ngày tết (Tết Đoan dương và Tết Nguyên đán) thì học trò đem tiền vật đến biếu thầy.
Ngoài ra còn có một số cơ sở giáo dục thuộc nhà chùa, tuy không với mục đích dạy học trò để thi đỗ nhưng cũng góp phần vào việc đào tạo một số người. Triều đình thì ở cấp huyện trở lên mới tham gia trong việc giáo dục. Thấp nhất là trường huyện có quan huấn đạo (hàng thất phẩm) dạy. Lên tới phủ thì quan giáo thụ (hàng lục phẩm) rồi đốc học (hàng tứ phẩm) ở trường tỉnh trông coi.
Kể từ năm 1803 thì ở Huế mở trường Quốc Tử Giám để các con quan và những người trúng tuyển ở các tỉnh vào thụ giáo các quan tế tửu va tư nghiệp. Vào năm 1908 con số ước đoán là trong hai xứ Bắc và Trung Kỳ thuộc quyền cai trị của nhà Nguyễn có 15.000 trường học và khoảng 200.000 học sinh. Sách dùng trong việc học hành ở thời Nguyễn có hai loại, sách của người Việt soạn và sách của người Tàu làm sẵn.
Sách riêng của người Việt có cuốn Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, và Âu học ngũ ngôn thi.
Sách dùng chung cho các sĩ tử ở Trung Quốc lẫn Việt Nam là những cuốn Thiên tự văn, Hiếu kinh, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, và Tam tự kinh. Khi đã giỏi chữ Nho rồi thì mới học thêm Tứ Thư, Ngũ Kinh. Ngoài ra còn các sách chuyên đề về Bắc sử, Nam sử, cổ thi. Sách truyện thì hoàn toàn bị các nho gia cho là không đáng đọc vì không truyền đạt đạo Thánh hiền
Trong hệ thống trưng bày thường trực của Bảo tàng Lịch sử quốc gia, triều Nguyễn được trưng bày khá đậm nét. Trong nội dung trưng bày về triều Nguyễn, còn có một số hiện vật, hình ảnh về việc học và thi cử thời đó như: sách học, bút nghiên, ống quyển, hòm đựng sách vở của sĩ tử; ảnh thi Hương dưới triều Nguyễn, ảnh giới thiệu về Văn Miếu (Huế)…
Ngày 28/10/2014, tại nhà Tiền đường, khu Thái Học Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã khai mạc triển lãm: "Giáo dục Việt Nam giai đoạn 1802-1945" qua tài liệu lưu trữ do Trung tâm Lưu trữ quốc gia I phối hợp với Trung tâm Hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức.
Triển lãm trưng bày 120 phiên bản tài liệu, hình ảnh, bản vẽ kỹ thuật được lựa chọn từ khối Châu bản triều Nguyễn và các tài liệu tiếng Pháp. Các phiên bản tài liệu và hiện vật trưng bày tại triển lãm tái hiện chân thực nền giáo dục của Việt Nam giai đoạn 1802 – 1945 với sự tồn tại của hai nền giáo dục: Giáo dục khoa cử nho học dưới triều Nguyễn và giáo dục khoa cử Tây học thời Pháp thuộc. Qua đó thấy rõ được quá trình thay thế từng bước của nền giáo dục Tây học trước sự suy yếu của nền giáo dục Nho học trong những năm cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.
Đặc biệt, trong tài liệu Châu bản lưu giữ có ghi vua Gia Long đã có nhiều ngự phê tập trung về giáo dục, chú trọng việc thi cử, tuyển chọn nhân tài, học tập tại Văn Miếu Quốc Tử Giám; Vua Khải Định đã ra bản Dụ số 123 ngày 6/12/1918 về việc bãi bỏ kì thi Hội và khoa thi Hội cuối cùng năm 1919, chấm dứt thời kì thi cử Nho học và nền giáo dục phương Tây ngày càng được chiếm lĩnh. Học trong nền giáo dục phương Tây không còn gói gọn trong văn hay, chữ tốt mà đã kết hợp giữa lí thuyết và thực hành.
Đối với các hoàng tử, hoàng đệ, công tử:
Việc dạy dỗ các hoàng tử, hoàng đệ, công tử rất được triều đình chú trọng trong việc tuyển thầy dạy, sách học và các điều kiện học tập khác.
Về sách học, các hoàng tử khi mới học thì cho học Tiểu học, Khai tâm bảo giám, Tứ thư, Ngũ kinh. Ngoài ra các hoàng tử còn được học các sách kinh truyện, sách sử. Các hoàng tử, hoàng tôn từ 15 tuổi trở lên sẽ được học thêm môn bắn cung, cưỡi ngựa…
Về lịch học thì: Những ngày dạy học lấy ngày lẻ giảng truyện hoặc kinh thư. Các ngày chẵn sẽ học sử, học 2 buổi. Các ngày 1,11, 21 hàng tháng, các hoàng tử sẽ phải vào chầu ở chính điện. Chiều các ngày 6,16,26 hàng tháng, các hoàng tử phải đem sách vào chầu ở điện Quang Minh để vua xem bài. Rõ ràng việc đào tạo của triều đình cho các hoàng tử, hoàng đệ được chu đáo, kỹ hơn các thời kỳ trước.
Đối với các Tôn sinh:
Cũng như các triều đại trước đó, triều Nguyễn cũng chú ý có những ưu đãi và quyền lợi hơn đối với những người trong hoàng tộc. Việc đưa người trong tôn thất vào làm tôn sinh là để hưởng những đặc ân này. Năm 1845 vua Thiệu Trị còn có hẳn Chiếu dụ về việc này. Đại ý là những người trong tôn thất là con cháu các thân phiên, hoàng thân có tước công, trừ những người đã được phong tước ấm, còn người nào từ 10 đến 35 tuổi muốn xin vào học đều cho làm danh sách tấu trình, đợi chỉ chuẩn cho sung làm học sinh trường Tôn học. Tôn học là một loại trường học giành cho con em trong hoàng tộc do một Hoàng thân cai quản, 2 hàn lâm học sĩ và nhiều người giảng dạy ở các nơi khác sung vào.
Tại trường Tôn học, các học sinh nhỏ tuổi mới vào học thì học sách tiểu học để biết cách ứng đối, sau đó đến Kinh truyện để rõ nghĩa lý rồi học kỹ các sách sử để biết sự tích. Cứ ngày lẻ thì giảng một bài Kinh và một bài sách tiểu học; ngày chẵn giảng một bài truyện và một bài sử. Mỗi tháng 4 kỳ ra bài vào các ngày 3, 9,17,25. Hàng năm lấy ngày khai trường vào ngày khai ấn tháng giêng; ngày nghỉ giảng vào ngày đóng hòm ấn tháng 12. Lễ khai giảng, nghỉ giảng làm như nhà Quốc Tử Giám. Học sinh trường Tôn học còn được ưu đãi có lương ăn hàng tháng. Ngoài ra càng học cấp cao thì càng được ban thưởng thêm từ 2 đến 5 quan tiền/tháng/người.
Hàng năm vào tháng 11, một viên quan đại thần ban Văn sẽ cùng với Hoàng Thân kiêm coi công việc của nhà Tôn học, cùng với các tổng quản, giáo tập, họp các học sinh lại và ra đầu bài thi. Sau khi chấm xong, người nào được hạng ưu, bình thì được thưởng bạc, tiền theo thứ tự. Hạng thứ sẽ bị phạt bớt đi nửa lương; hạng liệt thì sẽ không được cấp lương nữa. Người nào bị phạt 3 năm liền thì sẽ phải ra khỏi nhà Tôn học.
Đối với Ấm sinh:
Là con các vị quan được nhà vua ban cho học tại Quốc Tử Giám, hay còn được coi là học sinh loại 3. Sau khi vào Trường Quốc Tử Giám, học một thời gian để được dự thi quốc gia hoặc thi khảo trong trường để ra làm quan. Sau khi thi Hương, hoặc thi Hội mà không trúng, thì vào trường Giám thi lại một lần nữa, nếu trúng thì được giữ lại làm giám sinh và được hưởng quy chế chung. Năm Minh Mạng thứ 1 (1820), vua ban ân chiếu cử quan viên văn võ tam phẩm trở lên, trừ con đẻ của các công thần ở Vọng Các đã được định quan tước ra, còn con của các quan viên tam phẩm trở lên đều được ấm thụ vào học ở Quốc Tử Giám.
Ngoài các Trường học giành cho các đối tượng con vua, hoàng thần, quan lại, ở thành thị và nông thôn đều có các lớp học của các thầy đồ.
Trong triều Nguyễn, tính trung bình trên toàn quốc cứ 2 huyện có 1 trường học quốc lập (trường trung và đại tập), như vậy vào khoảng 5.570 xuất đinh thì có 1 trường học. Điều đó chứng tỏ triều Nguyễn khá quan tâm đến việc giáo dục đào tạo hệ thống quan lại phục vụ bộ máy cai trị, điều hành.Sau đây là bảng tổng hợp kết quả thi cử qua các triều đại :
Triều Lý: tổ chức 6 khoa; có 27 người đỗ; có 4 Trạng Nguyên.
Triều Trần: tổ chức 14 khoa; có 238 người đỗ; có 12 Trạng Nguyên.
Triều Hồ: tô chức 2 khoa; có 200 người đỗ; có 1 Trạng Nguyên.
Triều Lê sơ: tổ chức 28 khoa; có 485 người đỗ; có 20 Trạng Nguyên.
Triều Mạc: tổ chức 22 khoa; có 485 người đỗ; có 13 Trạng Nguyên.
Hậu Lê: tổ chức 73 khoa; có 793 người đỗ; có 13 Trạng Nguyên.
Triều Nguyễn: tổ chức 40 khoa; có 588 người đỗ; nhưng không có Trạng Nguyên.
Tổng cộng : có tất cả 185 khoa thi, 2.906 lần người đỗ, trong đó có 56 Trạng nguyên. Trừ những người thi đỗ 2 lần, nên thực tế có 2.875 người. Riêng nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên.
Nguồn:
- Giáo dục Việt Nam thời cận đại- Phan Trọng Báu- NXB Khoa học và xã hội - 1994.
- Nội các triều Nguyễn: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ- NXB Thuận Hóa- Huế - 1993 (các tập 2, 5, 7).
- Kỷ yếu Hội thảo” Những vấn đề văn hóa- xã hội Việt Nam thời Nguyễn”- NXB Khoa học xã hội- 1992
- Hệ thống giáo dục và khoa cử triều Nguyễn- NXB Chính trị quốc gia- 2011.
- Khoa cử Việt Nam thế kỷ XIX, đầu TK XX- Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội- 1994.