Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự

Call Contact the museum

Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự Một sân chơi kiến thức dành cho tôi và tất cả các bạn. Nếu thấy Pages hay hãy ấn nút Like và chia sẻ.

Niên hiệu của nhà Minh vẫn còn được dùng cho đến bây giờ !?!!____Nhà Minh tại Trung Quốc đã diệt vong hơn 3 trăm năm, nh...
07/10/2026

Niên hiệu của nhà Minh vẫn còn được dùng cho đến bây giờ !?!!

____

Nhà Minh tại Trung Quốc đã diệt vong hơn 3 trăm năm, nhưng tại một quốc gia khác, niên hiệu này vẫn được sử dụng cho tới tận ngày nay... Đó là tại Hàn Quốc.

Xin được nhấn mạnh rằng, việc sử dụng niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh này không phải là lịch chính thức của nhà nước Đại Hàn Dân Quốc mà là được sử dụng trong một cộng đồng và hoàn cảnh đặc thù.

Sau khi bị người Mãn Châu đánh bại, vua Triều Tiên Nhân Tổ đã phải thực hiện nghi lễ bái Thiên triều mới với Hoàng Thái Cực nhà Thanh. Tuy nhiên, các Nho gia tại Triều Tiên vẫn hướng về nhà Minh, coi nhà Minh là Hoàng triều Hoa Hạ chính thống, còn nhà Thanh của người Mãn chỉ là đám "Hồ Lỗ".

Do Vương quốc Triều Tiên không có Niên hiệu riêng nên phải sử dụng Niên hiệu của các Triều đại Thiên triều Trung Hoa. Sau khu nhà Minh sụp đổ và Mãn Thanh nhập quan, tầng lớp Nho sĩ Triều Tiên vẫn cố gắng giữ Niên hiệu Sùng Trinh của vị vua cuối cùng của nhà Minh.

Đối với các nhà Nho Triều Tiên, việc gìn giữ Niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh có 2 ý nghĩa sau đây.

1- Giới sĩ phu Triều Tiên tự nhận mình là lực lượng gìn giữ nét chuẩn mực, chính thống của Nho học Hoa Hạ sau khi trung nguyên rơi vào tay "rợ Mãn Thanh".

2- Nhà Minh từng gửi viện binh sang giúp Triều Tiên chống lại quân Nhật trong Chiến tranh Nhâm Thìn. Việc giữ niên hiệu Sùng Trinh là sự thể hiện lòng trung nghĩa, là Thiên kinh Địa nghĩa, là trọn vẹn đạo lý của Nho gia.

Cho tới tận ngày nay, tại nước Đại Hàn Dân Quốc hiện đại, nhiều gia đình Nho gia truyền thống, đặc biệt tại khu vực Andong, vẫn sử dụng Niên hiệu Sùng Trinh nhà Minh trong các hoạt động tâm linh, tín ngưỡng, văn tế, hay ghi chép nội tộc gia phả... Đây được các gia đình Nho giáo truyền thống coi là hoạt động kế thừa truyền thống của tổ tiên Nho gia, là làm theo đạo của người đọc sách Thánh Hiền.

Việc sử dụng niên hiệu Sùng Trinh có 3 cách chính:

1- Tính theo Niên hiệu Sùng Trinh ngày xưa cộng dồn cho đến ngày nay. (Năm 2026 Công Lịch là năm Sùng Trinh thứ 399);

2- Tính theo ngày vua Sùng Trinh tuẫn quốc tại Môi Sơn, gọi đó là Sùng Trinh Hậu và tính cho đến ngày nay. (Năm 2026 là năm Sùng Trinh Hậu thứ 383);

3- Tính theo năm Can Chi thời Sùng Trinh có sự kiện quan trọng gắn với gia tộc rồi cộng đến ngày nay. Cách này khá phức tạp.
Ví dụ: trên ảnh có ghi 崇禎丁丑後三百七十九年 - Sùng Trinh Đinh Sửu Hậu Tam Bách Thất Thập Cửu Niên.
Trong thời kỳ Sùng Trinh có năm Đinh Sửu là năm 1637.
379 năm sau năm 1637 tức là năm 2016.

Đinh Công Chấn, chàng trai làng biển Thanh Hóa, từng làm nhiệm vụ vận tải bằng xe đạp thồ ở chiến trường miền Đông Nam B...
07/10/2026

Đinh Công Chấn, chàng trai làng biển Thanh Hóa, từng làm nhiệm vụ vận tải bằng xe đạp thồ ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Từ chỗ còn chưa biết đi xe, anh tập luyện rồi nâng dần trọng tải từ 200kg, 300kg lên 550kg, 700kg và 800kg mỗi chuyến.

Đỉnh điểm, anh chở 1.014kg đ,ạn trong một chuyến, tức hơn 1 tấn hàng trên một chiếc xe đạp. Chiếc xe được gia cố nhiều lần để chịu được sức nặng khủng khiếp này. Con số 1.014kg cũng vượt hơn 3 lần mức 300kg từng là đỉnh cao của xe đạp thồ trên chiến trường Điện Biên Phủ. Ngày 19/5/1972, Đinh Công Chấn được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo QĐND
(*) Anh hùng LLVT nhân dân Đinh Công Chấn và chiếc xe đạp thồ được phục chế nguyên trạng tại Bảo tàng Hậu cần Quân đội,tháng 12-2016.
Tự hào Việt Nam| Những con người bình thường làm nên những điều phi thường, viết tiếp trang vàng trong lịch sử dân tộc.

Nguồn: https://www.facebook.com/share/p/19MALSucZE/

Tachikawa Ki-36 Tachikawa Ki-36 là một mẫu máy bay trinh sát đa nhiệm một tầng cánh của Không quân Lục quân Đế quốc Nhật...
06/10/2026

Tachikawa Ki-36

Tachikawa Ki-36 là một mẫu máy bay trinh sát đa nhiệm một tầng cánh của Không quân Lục quân Đế quốc Nhật Bản trong Thế chiến II. Tachikawa Ki-36 còn có tên là Máy bay Trinh sát Yểm trợ trực tiếp Kiểu 98 (九八式直接協同偵察機 – Cửu Bát Thức Trực Tiếp Hiệp Đồng Trinh Sát Cơ).

Tachikawa Ki-36 được phát triển bởi tổ kỹ sư của Công ty Hàng không Tachikawa do Ryokichi Endo đứng đầu. Máy bay sử dụng động cơ 9 xy-lanh 450hp của Hitachi. Tachikawa Ki-36 có 2 chỗ ngồi và chỉ được trang bị vũ khí nhẹ với 2 khẩu súng máy 7,7mm. Đôi khi chúng cũng có thể gắn thêm 350kg bom khi làm nhiệm vụ cường kích. Do chính thức được đưa vào biên chế Không quân Lục quân Nhật năm 2598 Nhật Lịch (tức năm 1938 Công Lịch) nên mẫu máy bay này có tên là Kiểu 98. Ngoài ra người Nhật cũng cung cấp Ki-36 cho chư hầu Mãn Châu Quốc và đồng minh Xiêm La. Tổng cộng, đã có hơn 1300 chiếc Ki-36 đã được sản xuất trong giai đoạn 1938-1944.

Tachikawa Ki-36 lần đầu tham chiến tại mặt trận Trung Quốc từ năm 1938. Do có khả năng cất cánh từ đường băng ngắn, đồng thời ít hỏng hóc, dễ sửa chữa bảo trì nên được các chỉ huy Nhật Bản tại chiến trường Trung Quốc đánh giá cao. Chúng được sử dụng làm nhiều nhiệm vụ khác nhau từ trinh sát, trinh sát pháo, chỉ huy, cho đến cả nhiệm vụ tấn công mặt đất.

Tại mặt trận Thái Bình Dương, Tachikawa Ki-36 có tốc độ thấp, động cơ yếu hơn nên bị thiệt hại khá nặng trước không quân áp đảo của Hoa Kỳ. Sau đó, Ki-36 được triển khai về mặt trận Trung Quốc là chủ yếu, ít xuất hiện tại mặt trận Thái Bình Dương nữa. Tuy nhiên, trong giai đoạn 1944-1945, máy bay Ki-36 lại được người Nhật tái bố trí về mặt trận Thái Bình Dương với vai trò mới: máy bay cảm tử Kamikaze. Chúng được gắn tới 500kg bom khi làm nhiệm vụ cảm tử.

Sau Thế chiến II, Tachikawa Ki-36 chiến lợi phẩm được Indonesia và Trung Quốc tái sử dụng. Khi Nội chiến Quốc-Cộng tại Trung Quốc kết thúc, Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc thu giữ được 2 máy bay Tachikawa Ki-36 và sử dụng làm máy bay huấn luyện cho tới tận giữa thập niên 50 của Thế kỷ XX.

Thông số kỹ thuật:
- Khối lượng trống: 1,25 tấn
- Khối lượng đầy tải: 1,66 tấn
- Dài: 8m
- Sải cánh: 11,8m
- Cao: 3,64m
- Chỗ ngồi: 2
- Động cơ Hitachi Ha-13A: 9 xy-lanh, 450hp
- Tốc độ tối đa: 348km/h
- Trần bay tối đa: 8,1km
- Tầm hoạt động: 1235km
- Vũ khí:
+ 2 súng máy 7,7mm Kiểu 96
+ 350kg bom

------

Ảnh: Hồng quân Liên Xô thu giữ một máy bay Tachikawa Ki-36 tại sân bay Phụng Thiên (Thẩm Dương, Đông Bắc Trung Quốc) trong chiến dịch Mãn Châu, tháng 8/1945.

Bác sĩ thời Tần–Hán: Quan tép riu - cả triều đình gọi là "Tiên sinh"Nếu sống dưới thời Hán và được giới thiệu với một ng...
05/10/2026

Bác sĩ thời Tần–Hán: Quan tép riu - cả triều đình gọi là "Tiên sinh"

Nếu sống dưới thời Hán và được giới thiệu với một người mang chức Bác sĩ, tốt nhất đừng hỏi ông ta chữa bệnh ở đâu. Cúi đầu hành lễ là được rồi.

Chữ 博士 – Bác sĩ khi ấy chẳng liên quan gì đến bệnh viện, cũng chưa phải học vị PhD như ngày nay. Đó là tên dành cho một lớp người mà triều đình nuôi để làm một việc nghe có vẻ rất mơ hồ: biết nhiều.

Trong cái thời đại phần lớn nhân loại còn khá mông muội ấy, biết nhiều lại là một thứ quyền lực. Về mặt chức vị, Bác sĩ nhận mức bổng lộc 600 thạch, tương đương với một viên huyện lệnh, cơ bản chỉ là quan chức hạng trung.

Nhưng giữa triều đình, quan lại sẽ kính cẩn gọi Bác sĩ là "Tiên sinh", còn học trò tự xưng là "môn nhân". Bổng lộc khiêm tốn, nhưng uy tín của chức danh này lại ở một cảnh giới hoàn toàn khác. Hán thư định nghĩa công việc của họ bằng một cụm từ cực kỳ kiêu ngạo: "Chưởng thông cổ kim" – nắm giữ việc thông hiểu chuyện xưa và nay.

Danh xưng Bác sĩ manh nha từ thời Chiến Quốc. Vua nước Triệu từng gọi một người học rộng là "Bác sĩ phương Nam", và cái nôi học thuật Tắc Hạ học cung của nước Tề có lẽ cũng từng dùng danh xưng này. Nhưng phải đến khi Tần Thủy Hoàng thâu tóm lục quốc, gom toàn bộ thiên hạ vào một mối, trí thức giả mới thực sự được đóng gói đưa vào bộ máy nhà nước.

Hoàng đế nhà Tần duy trì một đội ngũ lên tới 70 Bác sĩ. Họ thuộc quyền quản lý của cơ quan phụ trách lễ nghi và tông miếu. Đừng nghĩ họ chỉ là những thủ thư mọt sách. Tại cung Hàm Dương, nơi 70 Bác sĩ tiến lên chúc thọ hoàng đế. Bác sĩ Thuần Vu Việt đã bước ra thẳng thừng đề nghị Tần Thủy Hoàng từ bỏ chế độ quận huyện để quay lại việc phân phong chư hầu. Nghĩa là họ đứng ngay giữa triều đình để tranh luận về cấu trúc chính trị cốt lõi của cả một đế quốc.

Nhưng họ không có quyền. Tần Thủy Hoàng thích thu thập những bộ óc lớn cũng như cách ông thu thập binh khí thiên hạ để đúc thành người đồng. Ông gom họ lại để trang trí cho sự vĩ đại của triều đại, nhưng khi cần ban bố định luật, hoàng đế tự mình quyết định. Sau này, Tư Mã Thiên chép trong Sử ký: "Bác sĩ tuy bảy mươi người, chỉ đủ số mà không được dùng."

Nhà Tần sụp đổ, nhưng các Bác sĩ thì vẫn còn đó. Nhà Hán kế thừa nó, và đến đời Hán Vũ Đế, chức danh này có một cú chuyển mình thay đổi vĩnh viễn lịch sử Đông Á.

Năm 136 TCN, Hán Vũ Đế lập "Ngũ Kinh Bác sĩ". Vài năm sau, triều đình mở thêm chế độ "Bác sĩ đệ tử", ban đầu tuyển 50 thanh niên ưu tú giao cho các Bác sĩ giảng dạy. Kể từ đây, Bác sĩ mang đủ các vai trò: giáo sư đầu ngành, chuyên gia hiến pháp, người bảo vệ hệ tư tưởng và đôi khi là đại sứ lưu động. Các nguồn sử liệu đời sau ghi nhận rằng Bác sĩ thời Hán còn được cử đi tuần hành các châu quận, khảo sát phong tục, xử lý những án kiện hóc búa, và can dự vào những vấn đề đại sự.

Khi triều đình bí bách về luật lệ, không biết ứng xử thế nào với một điềm lạ, hay cãi nhau xem việc tế lễ này có hợp với tiền lệ tổ tông không, tất cả mọi ánh mắt sẽ đổ dồn về phía Bác sĩ. Đến thời Hán Thành Đế, tiêu chuẩn chọn Bác sĩ được đẩy lên mức: "minh vu cổ kim, ôn cố tri tân, thông đạt quốc thể" — hiểu rõ chuyện xưa nay, từ cái cũ biết cái mới, thông suốt thể chế quốc gia.

Đây chính là lý do một viên quan 600 thạch lại có địa vị gần như "siêu nhiên" trong triều. Họ nắm giữ độc quyền sự thật và quyền giải thích sự thật ấy.

Bằng việc thiết lập chế độ Bác sĩ và học trò của Bác sĩ, nhà Hán đã tạo ra một cơ chế vận hành quyền lực tinh vi: Nhà nước lựa chọn kinh điển, Bác sĩ giải thích kinh điển, học trò nỗ lực học cách giải thích đó, người giỏi nhất sẽ được bổ dụng làm quan. Thế là, quyền lực chính trị và quyền lực tri thức quấn chặt lấy nhau.

Những cuộc tranh luận nảy lửa của các Bác sĩ thời Hán về một chữ trong kinh Xuân Thu hay kinh Thi rất quan trọng. Cách họ giải thích sẽ quyết định luật pháp được áp dụng thế nào và nhà nước sẽ tự định nghĩa mình ra sao trong những thế kỷ kế tiếp theo.

Nguồn: https://www.facebook.com/share/p/14mDu2JsBfJ/

Một chiếc máy tiêm kích Mitsubishi A5M chiến lợi phẩm được Liên Xô sử dụng, 1939. ___Mitsubishi A5M, hay còn gọi là Máy ...
05/10/2026

Một chiếc máy tiêm kích Mitsubishi A5M chiến lợi phẩm được Liên Xô sử dụng, 1939.

___

Mitsubishi A5M, hay còn gọi là Máy bay chiến đấu trên Tàu sân bay Kiểu 96 (九六式艦上戦闘機 - Cửu Lục Thức Hạm Thượng Chiến Đấu Cơ), do Nhật Bản sản xuất từ thập niên 30 của Thế kỷ XX.
Mitsubishi A5M là mẫu máy bay một tầng cánh đầu tiên của Không quân Hải quân Nhật Bản, nhằm thay thế những mẫu máy bay 2 tầng cánh loại cũ như Nakajima A2N, Nakajima A4N, Yokosuka B3Y... Mẫu máy bay này được phát triển bởi đội kỹ sư của Mitsubishi, do Jiro Horikoshi đứng đầu. Vì được chính thức đưa vào biên chế năm 2596 Nhật Lịch (tức năm 1936 Công Lịch) nên A5M còn có tên là Kiểu 96.
Mitsubishi A5M chỉ được trang bị 2 súng máy 7,7mm Kiểu 97. Ngoài ra chúng còn có thể gắn thêm 2 quả bom 30kg trong những nhiệm vụ cường kích. A5M có khoang lái hở với 1 chỗ ngồi. Các phiên bản ban đầu, máy bay được trang bị 1 động cơ Kotobuki 9 xy-lanh với công suất tối đa 640hp, sau đó từ phiên bản A5M4 thay bằng động cơ mới 785hp.
A5M lần đầu tham chiến chính thức tại chiến trường Trung-Nhật từ năm 1937. Với tốc độ và độ tin cậy vượt trội, trong giai đoạn đầu tham chiến, A5M áp đảo hoàn toàn các mẫu tiêm kích 2 tầng cánh cũ của Trung Hoa Dân Quốc như Curtiss Hawk II & III, Vought O2U Corsair, Fiat CR.32... Cho tới khi Đoàn Phi công Tình nguyện Liên Xô tại Trung Hoa Dân Quốc mang tới Polikarpov I-16 thì Mitsubishi A5M mới gặp đối thủ xứng tầm trên bầu trời Trung Quốc. Một số tiêm kích A5M bị phi công tình nguyện Liên Xô bắn hỏng, ép hạ cánh rồi được đưa về Liên Xô nghiên cứu.
Từ cuối năm 1941, khi Hoa Kỳ bắt đầu tham chiến tại mặt trận Châu Á - Thái Bình Dương, các máy bay Mitsubishi A5M cũ dần bị thay thế bởi mẫu máy bay mới hơn A6M (còn được phương Tây biết đến với biệt danh Zero). A5M dần bị rút về tuyến sau làm máy bay huấn luyện tại các mặt trận ít quan trọng hơn.

Thông số kỹ thuật (phiên bản A5M2):
-Khối lượng trống: 1,21 tấn
-Khối lượng đầy tải: 1,67 tấn
-Dài: 7,56m
-Sải cánh: 11m
-Cao: 3,27m
-Chỗ ngồi: 1
-Động cơ Nakajima Kotobuki 3: 640hp
-Tốc độ tối đa: 426km/k
-Trần bay tối đa: 9,5km
-Tầm hoạt động: 1200km
-Vũ khí:
+ 2 súng máy 7,7mm Kiểu 97
+ 2 x 30kg bom (khi không treo bình dầu phụ 160 lít)

Những nhân tài của triều đại nhà Lý sau thời kỳ hoàng kim1. Lý Công Bình (?-?)Ông chủ yếu được biết đến qua hai lần đánh...
04/10/2026

Những nhân tài của triều đại nhà Lý sau thời kỳ hoàng kim

1. Lý Công Bình (?-?)

Ông chủ yếu được biết đến qua hai lần đánh bại quân Chân Lạp năm 1128 và năm 1137.

Theo sử sách, tháng 1 (ÂL) năm 1128, nhân lúc Lý Nhân Tông vừa băng hà,Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi khi mới 12 tuổi, Suryavarman II thừa nước đục thả câu, mượn gió bẻ măng ,cho 2 vạn quân sang tấn công bến Ba Đầu thuộc châu Nghệ An.Triều đình nhà Lý cử Nhập nội Thái phó Lý Công Bình điều động đô quan chức đi đánh dẹp. Đến tháng 2 (ÂL), Lý Công Bình đại phá quân Chân Lạp, gửi thư báo thắng trận về kinh thành Thăng Long. Lý Thần Tông đến ccung Thái Thanh, Cảnh Linh và chùa quán trong thành để lễ tạ ơn Phật và Đạo đã giúp ngầm cho Công Bình đánh được người Chân Lạp. Đến tháng 3 (ÂL), Lý Công Bình về kinh thành, dâng số tù nhân bắt được là 169 người.

Sau đó Suryavarman II còn 2 lần tấn công đất Nghệ An của Đại Việt (tháng 8 năm 1128 và năm 1132) nhưng đều bị đánh bại và đến năm 1135, Chân Lạp buộc phải triều cống Đại Việt trở lại. Cuối năm 1135 và năm 1136, đại thần nhà Lý là Trương Bá Ngọc (Lê Bá Ngọc), Lưu Khánh Đàm, Dương Anh Nhĩ lần lượt qua đời, Mâu Du Đô thì bị bãi chức, triều đình nhà Lý mất đi nhiều trụ cột. Tháng 1 (ÂL) năm 1137, Suryavarman II lần thứ tư đem quân sang đánh Đại Việt, cho tướng Tô Phá Lăng tấn công Nghệ An. Lý Công Bình khi đó đang giữ chức Thái úy được cử đi đánh dẹp và lại giành chiến thắng.

Sử sách không ghi chép gì về việc phong thưởng sau khi thắng trận nên em đoán là Hoàng đế Lý Thần Tông ko có phong thưởng.

2. Trương Bá Ngọc ( Lê Bá Ngọc)

Ông trải thăng Hữu Thị lang bộ Lễ vào đời Lý Nhân Tông, sau bị truất thành chức Nội hỏa Thư gia,theo Lịch triều hiến chương loại chí thì ông bị bãi chức vào năm Long Phù (1101-1109) và theo Việt sử thông giám cương mục là năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9, tức năm 1118. Lê Bá Ngọc được gia chức Nội thường thị vào năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121), đến năm 1124 thì làm Thị lang bộ Lễ.

Năm 1126, ông được sai đi đánh dẹp người Nùng làm phản ở châu Quảng Nguyên. Năm sau, khi đến Quảng Nguyên thì quân làm phản chạy sang nước Tống, theo Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Bá Ngọc đã đặt ra phép tắc nhằm ràng buộc dân ở biên giới rồi kéo quân về

Tháng chạp năm Đinh Mùi, tức năm 1127, ông được vua truyền di mệnh cùng Lưu Khánh Đàm đưa thái tử, tức vua Lý Thần Tông lên ngôi.

Khi vua Lý Thần Tông lên ngôi Lê Bá Ngọc được sai truyền dụ cho vương hầu và quan lại

Ngày Tân Sửu tháng 1 năm Thiên Thuận thứ nhất (1128), ông được thăng làm Thái úy, tước hầu và được ban thưởng tiền lụa do có công phò lập. Tháng 11 âm lịch cùng năm ông được Hoàng đế thêm chức Thái sư và cho đổi họ thành họ Trương, theo họ của Ngọc Hoàng.

( Nếu em nhớ không nhầm trong Phong Thần diễn nghĩa có nói Ngọc Hoàng vốn là người phàm trần tên Trương Hữu Nhân được Tam Thanh tôn lên làm Ngọc Hoàng Thượng Đế)

Trương Bá Ngọc mất năm Thiện Thuận thứ 3, tức năm 1130,ko rõ hưởng thọ bao nhiêu tuổi.

3. Lưu Khánh Đàm (?-1136)

Theo Đại Nam nhất thống chí, Lưu Khánh Đàm là người thôn Yên Lãng, quận Cửu Chân (xã Xuân Tín, tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Cuối đời, ông về sống ở huyện Hưng Nhân (Hưng Hà, Thái Bình ngày nay) và qua đời tại nơi này.

Đến cuối thời Lý Nhân Tông, Lưu Khánh Đàm giữ chức Thái úy. Tháng 12 năm 1127, Nhân Tông ốm nặng, trước khi băng hà đã triệu kiến Lưu Khánh Đàm vào cung để phó thác. Năm 1128, Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi vua, tức Lý Thần Tông, cho Lê Bá Ngọc thay ông làm Thái úy. Đến năm 1129 thì lại trở lại chức cũ.

Tuy ko rõ công lao nhưng chắc chắn từng giữ chức Thái úy thì ông hẳn phải rất giỏi giang !

Ông thì được Đại Việt sử ký toàn thư chép đến hai cái chết. Có thể cái chết thứ hai của ông thực ra là cái chết của em trai ông, Lưu Ba (1161) , một vị đại thần cũng mờ nhạt như ông.

4. Mậu Du Đô ( Mậu Đô Du )

Cuối năm 1120, ông được Lý Nhân Tông phong làm Nội thường thị. Năm năm sau, Mâu Du Đô được Lý Nhân Tông phong làm Trung thư thừa, coi việc trong cung. Ba năm sau tức năm 1128, Mâu Du Đô được phong làm Gián nghị đại phu, thăng trật chư vệ. Ông được tham gia việc quân sự, và được Hoàng đế sai đi chọn quân Long Dực cũ làm quân tả hữu Ngọc Giai, Hưng Thánh, Quảng Thành, Vũ Đô. Tháng 5 năm ấy ,ông được sai đến phủ Thiên Đức chọn đất tốt để xây sơn lăng của Lý Nhân Tông. Đến tháng 8, ông lại được giao nhiệm vụ cùng Thái úy Lưu Khánh Đàm và chọn quan chức đô.

Năm 1131, Mâu Du Đô được Lý Thần Tông sai trấn thủ châu Nghệ An. Đến tháng 9 năm 1136, Mâu Du Đô bị bãi chức.Tháng 8 năm 1145, Thái sư Mâu Du Đô cùng Phò mã Dương Tự Minh cầm quân đi dẹp cuộc nổi dậy của thủ lĩnh Đàm Hữu Lượng ở vùng biên giới, đánh bại được Hữu Lượng khiến Hữu Lượng phải bỏ trốn, bị quan nhà Tống dụ về nước giết chết.

Tháng 3 năm 1146, Mâu Du Đô qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Ông tham gia chính trường hơn 25 năm, trải qua ba đời Hoàng đế thì mất.

5. Dương Anh Nhĩ (?-1136)

Dương Anh Nhĩ từng giữ chức Nội nhân hỏa, đầu thời Lý Thần Tông được phong làm Thái phó Đại liêu ban, sau được thăng làm Thái úy.

Giữa năm 1132, quân Chăm Pa và Chân Lạp đến cướp phá châu Nghệ An, Dương Anh Nhĩ được cử đi cùng với quân ở phủ Thanh Hóa, châu Nghệ An đi đánh giặc và toàn thắng trở về

6. Đỗ Anh Vũ (113-1159)

Năm 1135, Lý Thần Tông cử ông theo Thái phó Lý Công Bình đi đánh dẹp quân Chân Lạp ở phía Nam châu Nghệ An và đại thắng trở về.

Năm 1136, ông được cử đi dẹp quân Sơn Liêu. Quân Sơn Liêu cậy chỗ hiểm trở mà nhiều năm không cống nạp. Thần Tông sai ông cùng nhiều tướng đem quân đi đánh, nhưng chỉ riêng Đỗ Anh Vũ là người chiến thắng liên tiếp, vì thế người người đều trổ hết sức mạnh để đánh giặc. Từ ấy về sau, triều đình của Lý Thần Tông rất tin tưởng ông, chuyện gì cũng đều ủy thác cho ông cả.Sau Đỗ Anh Vũ chấn chỉnh triều cương, trăm quan khép mình mà nghe lệnh; sửa sang chính trị. Hoàng thái hậu thấy Thái úy có nhiều công lao, có lòng trung tiết, bèn thăng chức Đỗ Anh Vũ lên chức Kiểm hiệu Thái phó.

Năm 1138, Đỗ Anh Vũ được phong làm Phụ quốc Thái úy và được ban quốc tính. Vì vậy có tài liệu chép tên ông là Lý Anh Vũ. Cùng trong năm 1138, Thân Lợi tự xưng là con của Lý Nhân Tông, chiếm cứ châu Thượng Nguyên để làm phản, thủ hạ đông hơn 1000 người. Quan Gián nghị Đại phu Lưu Vũ Xứng được lệnh đi dẹp nhưng bị Thân Lợi bón cho một rổ hành.

Thân Lợi vừa mới thắng , đã ảo tưởng sức mạnh liền kéo binh ra chiếm cứ châu Tây Nùng, đánh phá phủ Phú Lương, sắp tiến về kinh thành Thăng Long. Thái úy Đỗ Anh Vũ được lệnh đi đánh. Ông đem quân đến Quảng Dịch thì đụng độ với quân Thân Lợi và Đỗ Anh Vũ đã khiến cho quân Thân Lợi thua to, bị chết rất nhiều. Thân Lợi phải chạy trốn ở châu Long Lệnh.Thái úy Đỗ Anh Vũ tiến đánh châu Long Lệnh, phá được châu này, bắt được hơn 2000 người. Thân Lợi chạy trốn đến Lạng Châu, bị Tô Hiến Thành tóm gọn, đưa về kinh sư xử chém.

Nói chung là ông đúng kiểu con nhà người ta: vừa có thân phận khủng đúng kiểu COCC đời đầu; vừa giàu có lại vừa có mặt đẹp và có tài năng, chẳng qua ngoại tình với Linh Chiếu Thái hậu Lê Thị, mẹ Hoàng đế Lý Anh Tông với lại nhiều khi hơi hống hách, tự cao nên bị xem thường thôi chứ thực tế, ông này cũng giỏi mà !

7. Tô Hiến Thành (1102-1179 )

Tô Hiến Thành 11 tháng 2 năm 1102 - 17 tháng 7 năm 1179) quê làng Hạ Mỗ tức là xã Hạ Mỗ huyện Đan Phượng cũ sau này. Về tài năng thì ông này có thể nói là giỏi một cách toàn diện từ văn đến võ. Nói về sự nghiệp làm tướng của ông. Sự nghiệp làm tướng võ của ông chủ yếu là dưới thời trị vì của Hoàng đế Lý Anh Tông.

Năm 1140, Thân Lợi tự xưng là con trai Lý Nhân Tông và nổi loạn chống vua Lý Anh Tông ở khu vực phía bắc (nay là Thái Nguyên). Quân của Thân Lợi cuối cùng đã bị quân nhà Lý do Đỗ Anh Vũ chỉ huy đánh tan, Thân Lợi bị Tô Hiến Thành bắt và bị chém đầu theo lệnh của Lý Anh Tông tháng 10 năm 1141.Chính Tô Hiến Thành đã khuyên nhà vua tha chothành viên tham gia nổi loạn để tỏ lòng nhân ái đối với dân chúng.Thái úy Tô Hiến Thành còn cùng Hoàng đế Lý Anh Tông đi dẹp loạn khắp nơi, mở mang bờ cõi thêm về phía Tây bắc. Sự nghiệp võ công của ông còn hiển hách hơn thế nữa khi ông đã đánh lui nhiều cuộc xâm lược của bọn Chân Lạp ; chinh phạt Chiêm Thành .

Sự nghiệp làm quan văn của ông cũng hiển hách không kém cạnh gì sự nghiệp võ công nhưng phần lớn công lao lại tập trung ở giai đoạn cuối đời.Ở giai đoạn trước khi qua đời, công lao của ông chủ yếu liên quan đến an sinh xã hội là chính. Ông thời điểm này thường tổ chức khai hoang lấn biển ở một số vùng ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh, Thanh Hóa và Hà Tĩnh ngày nay, đặc biệt đối với vùng đất ven biển Hải Dương nay là Vĩnh Bảo - Hải Phòng ( sau sáp nhập).Cuối đời ông làm đến chức Nhập nội Kiểm hiệu Thái phó bình chương quân quốc trọng sự ( chức này chắc cũng tương đương với chức Thừa tướng và Tể tướng nhỉ ? )

8. Dương Tự Minh (?-?)

Trong vòng 23 năm, từ năm 1127 đến năm 1150 Dương Tự Minh đã được nhiều bộ chính sử cổ truyền, từ “Đại Việt sử lược”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Đại Việt sử ký toàn biên”… đến “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, “Việt sử cương mục tiết yếu”… ghi chép năm lần, và gắn bó với bốn sự kiện lịch sử lớn là:

• Tháng 10 năm 1142: Từ Phú Lương, Thái Nguyên, được triều đình phái đi Quảng Uyên, Cao Bằng để “chiêu tập” người đất ấy, sau cơn xiêu giạt vì bị quân Tống chiếm đóng (năm 1076) và phải đấu tranh gay go, chúng mới chịu trả đất lại (năm 1179);

• Tháng 8 năm 1143: Được ban chiếu, cho thay mặt triều đình “cai quản việc công ở các khe động suốt dọc biên giới trên bộ”;

• Tháng 8 năm 1145: Được cử làm tướng đi đánh Đàm Hữu Lượng khiến bọn giặc Hữu Lượng đang từ nước Tống sang quấy phá vùng biên giới phía bắc, cướp đất Quảng Uyên; phải thua trận.

• Tháng 9 năm 1150: Tham gia vụ phế truất kẻ quyền thần và loạn thần Đỗ Anh Vũ ở triều đình Thăng Long. Đến cuối năm 1150 thì bị Đỗ Anh Vũ (nhờ hối lộ và bè đảng bao che nên thoát tội) phản kích “bắt đi đầy ở nơi xa độc”.

9. Lưu Ba ( em trai Lưu Khánh Đàm )

Theo sách Đại Nam nhất thống chí, Lưu Ba là em trai của Thái úy Lưu Khánh Đàm. Hai anh em quê ở thôn Yên Lãng, quận Cửu Chân (nay thuộc xã Định Tân, tỉnh Thanh Hóa).Cũng theo nguồn trên, Lưu Ba từng tham gia đánh Tống ở sông Phú Lương (tức sông Cầu, còn gọi là Như Nguyệt), điều này chứng tỏ rằng ông đã tham gia cuộc chiến bảo vệ phòng tuyến sông Như Nguyệt cùng với Lý Thường Kiệt vào 1077.

Cuối thời Lý Nhân Tông, Lưu Ba giữ chức Nội nhân Hỏa đầu.Năm 1128, Lý Nhân Tông băng hà, Thái tử Lý Dương Hoán lên ngôi, tức Lý Thần Tông. Lưu Ba cùng Dương Anh Nhĩ từ Nội nhân Hỏa đầu được thăng chức Thái phó, trở thành quan đầu triều chỉ dưới quyền mỗi Thái úy Lê Bá Ngọc. Ông lại được xét công lao chống Tống mà được ban tước Quốc Công.Lúc về già, ông cho dựng một ngôi chùa ở trong xã, được Hoàng đế ban cho tên là chùa Báo Quốc.

10. Nguyễn Nhữ Mai (?-? )

Mặc dù, ông chủ yếu được biết đến nhờ công lao cùng phò mã Dương Tự Minh và Quản quân sứ là Lý Nghĩa Vinh đi đánh Đàm Hữu Lượng, nhưng để được bắt cặp với hai người này đi đánh trận đương nhiên, ông cũng phải rất giỏi.

11. Lý Nghĩa Vinh (?-?)

Mặc dù, thông tin về ông còn mơ hồ hơn cả đề thi đại học, nhưng được biết ông giữ chức Quản quân sứ. Đây là một chức quan võ cấp cao dùng để trực tiếp quản hạt, huấn luyện hoặc chỉ huy đơn vị quân đội của triều đình nhằm xiết chặt an ninh trật tự. Ngoài ra, chức này còn dùng để áp giải tù binh hay tội phạm hoặc dùng để giữ gìn trật tự biên ải.Được giữ chức này cho thấy ông hẳn phải rất giỏi vì dù gì đây cũng đâu phải là một chức hạng xoàng !

12. Phạm Bỉnh Di (?-1209)

Ông chủ yếu được biết đến nhờ công lao đánh dẹp Đoàn Thượng và Phạm Du làm loạn.

Tháng 3 năm 1207, hào trưởng ở Hồng Châu (thuộc Hải Dương và Hải Phòng ngày nay) là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ( Đoàn Văn Lôi) nổi dậy, xây thành đắp lũy, xưng vương hiệu. Cao Tông phái rất nhiều quân đi đánh Hồng Châu, trong đó có cánh quân của Phạm Bỉnh Di là quân đạo Khả Liễu. Thấy thế lực quân triều đình mạnh không chống nổi, Đoàn Thượng liền ngầm sai người đem của cải đút lót cho quan Thượng phẩm phụng ngự Phạm Du, xin triều đình rút quân về. Phạm Du bèn xin với Cao Tông tha cho Đoàn Thượng. Lý Cao Tông ngu ngơ chấp thuận và hạ lệnh cho Bỉnh Di cùng cánh quân của nhiều tướng quân khác rút về.

Đầu năm 1209, Cao Tông sai Phạm Du coi việc quân ở châu Nghệ An. Nhân lúc miền này vừa bị nạn đói lớn, dân chúng phiêu tán khắp nơi, Phạm Du liền xin vua cho mình được tự lập một lực lượng riêng để phòng vệ khi bị bọn gian tặc đánh cướp. Được Cao Tông chấp thuận, Phạm Du chiêu tập lực lượng để họp binh đi cướp phá khắp nơi. Cùng lúc ấy, ực lượng nổi loạn khác cũng chiếm cứ nhiều nơi, khiến đường sá bị cắt đứt, thuyền bè không đi lại được. Cao Tông thấy tình hình nguy cấp liền sai Phạm Bỉnh Di lấy quân ở Đằng Châu (thị xã Hưng Yên) để đánh Phạm Du. Phạm Du bị Bỉnh Di đánh bại, phải chạy về Cổ Miệt cùng với Đoàn Thượng, Đoàn Chủ ở Hồng Châu để hợp binh đánh lại quân Đằng Châu của Bỉnh Di. Bỉnh Di bị thua.

Tháng 2 năm 1209, Bỉnh Di lại đem binh ở Đằng Châu, Khoái Châu đi đánh Du. Phạm Du thua trận bỏ trốn lên Hồng Châu. Bỉnh Di tịch biên gia sản của Du rồi đốt hết. Vì thế, Phạm Du lại càng thù Bỉnh Di hơn. Phạm Du ngầm sai người về kinh đút lót cho bọn quan lại trong triều, để vu khống rằng Bỉnh Di tàn ác, giết hại người vô tội và kể lể tình oan ( ừ thì Phạm Du oan thật ! Oan Thị Mầu ! Đã hãm hại người tài,sau còn đi ngoại tình với vợ người ta nữa ! )

Đến tháng 4 , cùng năm , Phạm Bỉnh Di đánh tan quân Đoàn Thượng và Đoàn Chủ, Đoàn Chủ bị đâm chết. Dù Bỉnh Di đã lập được đại công, nhưng Cao Tông lại tin lời xàm tấu của Phạm Du nên sai người triệu cả Bỉnh Di và Phạm Du về kinh. Phạm Du về kinh trước chầu Cao Tông, lấy lời lẽ vu khống, gian xảo để làm vừa lòng Hoàng đế thế mà lại được Hoàng đế tin cẩn.

Tháng 7 năm ấy, Bỉnh Di về đến kinh sau, rồi vào triều phụng mệnh. Có người can ông không nên vào vì đã bị Phạm Du gièm pha, nhưng Bỉnh Di cho rằng:

" Tôi thờ chúa thượng hết lòng trung thành mà lại bị người ta gièm pha chăng ? Huống chi có mệnh lệnh của vua, tôi còn biết chạy đi đâu? "

Ông cùng con là Phạm Phụ vào cung. Cao Tông liền sai bắt Bỉnh Di và Phạm Phụ giam ở Thủy Viên, toan làm tội.Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc nghe tin cha con Bỉnh Di bị bắt, bèn đem binh lính phá cửa Đại Thanh kéo vào nội điện để cứu chủ. Trong lúc quân Quách Bốc và quân triều đình đang giằng co ngoài cửa, Cao Tông thấy hoảng hốt nên liền sai giải Bỉnh Di và Phụ vào chỗ bệ đá nghỉ mát trong điện Kim Tinh. Phạm Du cùng em là Phạm Kinh ở trong ngự đường đi ra, lấy luôn mấy cây hàng trong cung đâm chết cha con Bỉnh Di rồi cùng Cao Tông bỏ kinh thành Thăng Long chạy trốn.

Quách Bốc đã đưa quân vào được thành Thăng Long thì nghe tin chủ bị giết bèn sai quân sĩ đột nhập vào chỗ bệ đá trong điện Kim Tinh. Lúc ấy,Cao Tông và anh em Phạm Du đã chạy trốn. Quách Bốc sai quân lấy xe ngự chở xác Bỉnh Di, lấy chiếu ngự bọc xác của Phụ, theo cửa Việt Thành khiêng xuống bến Triều Đông an táng.

13. Đỗ Kính Tu (1152-1216)

Đỗ Kính Tu sinh năm 1152, tuy vậy trên tấm bia ghi tiểu sử được đặt nơi mộ thành hoàng Đỗ Kính Tu, lại thuật cho rằng ông sinh năm 1172 (Nhâm Thìn) tại làng Hậu Ái.Hậu Ái từng là một thôn thuộc tổng Phương Canh, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông, nay là xã Sơn Đồng, thành phố Hà Nội (trước năm 2025 tức là trước sáp nhập thuộc xã Vân Canh, huyện Hoài Đức).

Bởi sự ham học, 13 tuổi ông đỗ tú tài kỳ thi hương; 18 tuổi khi triều đình mở khoa thi võ, ông trúng tuyển bậc võ quan; 23 tuổi ông đỗ đầu khoa thi tam giáo được phong Hàn Lâm Viện Đại Học Sỹ. Năm 1175, cuối đời Lý Anh Tông, Đỗ Kính Tu được thăng chức Lịch điển khu tào, cùng Thái úy Tô Hiến Thành phụ chính trông coi việc nước. Dành cho ai chưa biết, Phối hợp cùng các tể tướng, đại thần nắm giữ việc triều chính cốt lõi ở trung ương.Sau này, các vị giữ chức này thường được kiêm nhiệm thêm vai trò giáo dưỡng hoàng gia (như Đế sư - thầy dạy vua),lo việc ổn định phép tắc trị dân )

Sau khi Thái úy Tô Hiến Thành qua đời, ông cùng nhiều trung thần chèo chống giữ vững cơ đồ nhà Lý, được phong đến chức Thái bảo phụ quốc, Thái phó, rồi Thái úy.

Cuối thời Lý, vùng Đại Hoàng nổi dậy chống triều đình do Phí Lang cầm đầu. Năm 1204, Đỗ Kính Tu được sai đem quân tới đánh dẹp. Triều đình không giành được thắng lợi, vùng Đại Hoàng vẫn trong tình trạng ly khai trung ương tới tận thời Trần. Theo thần tích, Đỗ Kính Tu biết Phí Lang vốn là quan quân, do bất mãn với gian thần Đàm Dĩ Mông nên mới nổi dậy, thành ra ông chỉ mang quân đánh lấy lệ rồi cho lui về.

Năm 1210, trước khi chết ,Lý Cao Tông cho gọi Đỗ Kính Tu để ký thác.Lý Cao Tông chết, Đỗ Kính Tu phò Thái tử Sảm lên ngôi, tức vua Lý Huệ Tông, vì vậy được ban quốc tính, nên còn gọi là Lý Kính Tu. Tuy nhiên, quyền lực sau ấy lại rơi vào trong tay cậu cháu nhà Tô Trung Từ Trần Tự Khánh. Cuối đời, ông bị gian thần hãm hại đã uất ức mà nhảy xuống sông tự vẫn.

14. Ngô Lý Tín (1126-1190 )
Ngô Lý Tín sinh ngày 20 tháng 1 năm Bính Ngọ (1126) và mất ngày 9 tháng 10 năm Canh Tuất tức năm 1190. Cha là Ngô Huy Hiếu, mẹ là Đào Thị Phúc quê trang Vĩnh Đồng, huyện Khoái Châu, trấn Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên)

Trước nguy cơ đó, Ngô Lý Tín đã tập hợp học trò và trai tráng trong vùng luyện tập binh mã, xin triều đình được đánh giặc cứu nước. Vua phong Ngô Lý Tín làm Thượng tướng quân, sai đi dẹp giặc cướp và đi dẹp giặc quấy nhiễu vùng biên cương, ông đã lập được nhiều chiến công. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Năm Nhâm Dần (1182) triều đình cử Ngô Lý Tín đem quân thủy bộ đi tuần bắt trộm cướp”. Cũng theo Toàn Thư:" Mùa xuân năm Quý Mão (1183), triều đình lại “cử Ngô Lý Tín làm đô đốc tướng ( sách Đại Nam Nhất thống chí hình như viết là Thượng tướng quân) đi đánh Ai Lao " (Sđd, T1, tr.328 )

Theo tương truyền, khi đem quân đi đánh giặc ở khúc sông Quán Trang cửa sông Văn Úc, sau khi chiến thắng trở về, Ngô Lý Tín cùng đoàn tùy từng đang xuôi thuyền trên dòng, không may gặp cơn bão lốc, thuyền của ông bị lật, cả đoàn tử nạn, thi thể ông trôi dạt vào thôn Cẩm Khê.Nhân dân Cẩm Khê nghe tin ông mất vô cùng thương tiếc, đã an táng thi thể ông gần nơi tử nạn, rồi dâng sớ về triều. Nhà vua hay tin rất xúc động, bèn sai đem 500 lạng vàng, 1000 lạng bạc và truyền chiếu chỉ cho lập đền thờ tại địa phương để nhân dân quanh năm thờ phụng ( tức là Đền Gắm )ban tặng sắc phong cho Thái phó Ngô Lý Tín với mỹ tự: “Thượng đẳng phúc thần, vạn cổ huyết thực”.

Dân gian tại địa phương còn lưu truyền câu ca dao:" Thứ nhất Đền Bì, thứ nhì Đền Gắm " .

15. Đàm Dĩ Mông ( em trai An Toàn Thái hậu Đàm Thị, tức là cậu của Lý Huệ Tông )

Ông nổi tiếng là kẻ thiếu học thức. Được cái là cũng có một số công lao khá đáng kể. Công lao đầu tiên phải nói đến công lao hạn chế Phật Giáo. Về tình hình nhà Lý lúc này, Phật Giáo càng ngày càng bại hoại. Đàm Dĩ Mông từng viết bài " : Phán Tăng Đồ " nói về sự bại hoại Phật giáo ở nước ta thời Lý Cao Tông như sau:

" Phương kim tăng đồ phả dữ dịch phu tương bán. Tự kế bạn lữ, vọng lập sư tư, tụ loại quần cư, đa vi uế hành. Hoặc ư giới trường tịnh xá công hành tửu nhục, hoặc ư thiền phòng tịnh viện tư tự gian dâm. Trú phục dạ hành, hữu như hồ thử.

Bại tục thương giáo, tiệm tiệm thành phong. Thử nhi bất cấm, cửu tất tư thậm. "

Tạm dịch ( bản dịch này em sưu tầm từ bản dịch của một bạn tên là Phạm Tú Châu, một dịch giả trên trang web thơ Thi Viện) :

" Hiện nay, số sư sãi đã gần ngang với số phu dịch. Tự kết bè lũ, lập càn thủ lĩnh, tụ họp thành bầy, làm nhiều việc xấu. Hoặc ở nơi giới trường, tịnh xá mà công nhiên rượu thịt; hoặc ở chốn tăng phòng, tịnh viện mà tiêng tự gian dâm. Ngày ẩn tối ra, như phường cào chuột.

Bại hoại phong tục, phương hại giáo lý, dần dần đã thành thói quen. Nay không cấm đi, lâu ngày càng tệ. "

Em lại sưu tầm được một bản dịch khác nhưng ko hiểu vì sao bác ấy lại dịch thành thơ lục bát:

Hiện nay sư sãi bằng phu.
Lập càn thủ lĩnh kết thu lũ bè.
Thành bầy tụ họp hội hè,
Làm nhiều việc xấu chẳng hề ăn năn.
Giới trường tịnh xá thịt ăn,
Tăng phòng, tịnh viện riêng dâm tự nhà.
Chuột chồn ngày ẩn tối ra,
Bại phong hoại tục, thật xa Phật thầy.
Dần dần thành thói quen ngay.
Nếu nay không cấm lâu ngày tệ hơn.

( Lương Trọng Nhàn cũng là một dịch giả trên trang web thơ Thi Viện )

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84965898661

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự:

Shortcuts

Share

Category