Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự

Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự Một sân chơi kiến thức dành cho tôi và tất cả các bạn. Nếu thấy Pages hay hãy ấn nút Like và chia sẻ.

Sử dụng mảnh bom, sản xuất mìn định hướng ------  Đến năm 1971, bộ đội chủ lực của ta đã mạnh dần lên, địch không dám hà...
04/09/2026

Sử dụng mảnh bom, sản xuất mìn định hướng

------

Đến năm 1971, bộ đội chủ lực của ta đã mạnh dần lên, địch không dám hành quân đánh vào vùng giải phóng của ta mà co cụm trong các đồn bốt, cứ điểm với công sự kiên cố và nhiều hàng rào dây thép g*i bảo vệ.

Để tiến công địch, quân ta đã phá hàng rào dây thép g*i bằng các loại bộc phá ống 5-7kg và mìn định hướng ĐH20. Tuy nhiên, các loại mìn, bộc phá trên không phá hết được các lớp hàng rào hỗn hợp của địch, bao gồm hàng rào cũi lợn, hàng rào chữ A, hàng rào lò xo kết hợp (bề rộng hàng rào khoảng 30m) do uy lực của bộc phá và mìn không cắt đứt được dây thép g*i. Vì thế, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên giao Xưởng sửa chữa và sản xuất vũ khí X53 nghiên cứu, sản xuất các loại mìn phá hàng rào này.

Sau nhiều ngày đêm nghiên cứu, kỹ sư Đinh Đức Cường và kỹ sư Ngô Khắc Trường ở Xưởng X53 thấy rằng, dù có tăng lượng thuốc nổ lên thì chỉ có thể làm đứt một phần các sợi dây thép g*i vì chúng mềm, có độ đàn hồi, ít chịu tác động của sóng xung kích. Khi hàng rào dây thép g*i được kết nối với nhau liên hoàn, trải trên diện rộng thì mìn, lượng nổ, bộc phá bình thường khó phá được.

Chính vì vậy, nhóm nghiên cứu đề nghị đơn vị cho bộ đội đi nhặt các mảnh bom và đầu đạn về cho vào lò rèn nung đỏ, sau đó chặt ra từng mảnh nhỏ, để nguyên cạnh sắc, tôi cho thật già rồi xếp vào trong mìn định hướng. Khi thử nghiệm, các mảnh bom, đạn nhờ sóng xung kích văng đi như những lưỡi dao sắc cắt đứt dây thép.

Cuối năm 1972, khi đánh địch tại cứ điểm Plei Cần (huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) đợt 2, quân ta đưa các loại mìn định hướng này vào sử dụng. Quá trình tác chiến, Đại đội 1, Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 66, Sư đoàn 10 do đồng chí Tạ Oanh làm Đại đội trưởng tiến hành mở cửa bằng mìn định hướng này. Kết quả, toàn bộ số hàng rào dây thép g*i bị thổi bay và đứt sạch với chiều rộng khoảng 10m, tạo thuận lợi cho bộ đội xung phong đánh chiếm mục tiêu. Trận đó, Sư đoàn 10 đã tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Plei Cần của địch nhanh chóng.

--------

“Ký ức một thời với Tây Nguyên”, NXB Quân đội nhân dân, năm 2014

Thái bảo Thọ Quận công Cao TưThái bảo Thọ Quận công Cao Tư xuất thân trong một gia đình có dòng dõi làm quan. Theo các t...
04/09/2026

Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư

Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư xuất thân trong một gia đình có dòng dõi làm quan. Theo các tài liệu lưu giữ và truyền ngôn dân gian, ông vốn quê gốc người miền ngoài, gia tộc có nghề làm vải nổi tiếng. Đến thời Hậu Lê, người họ Cao đã đỗ đạt và làm quan. Tuy nhiên, khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê, vì không theo nhà Mạc nên viên quan họ Cao buộc phải lui về ẩn cư. Nghe nói ở xứ Thanh có vùng đất Thọ Lộc (Bút Sơn ngày nay) phong cảnh đẹp, thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống nên người họ Cao đã dời nhà về đây mang theo cả nghề dệt vải truyền thống của gia tộc.

Cao Tư sinh vào cuối thế kỷ XVI, sống vào nửa đầu thế kỷ XVII. Do biến động xã hội, gia cảnh họ Cao lúc này cũng có nhiều sa sút. Tuy nhiên, với sức khỏe phi thường, lại chăm chỉ luyện tập nên lớn lên Cao Tư đã trở thành chàng trai có võ nghệ cao cường, nổi tiếng khắp vùng.

Truyền ngôn dân gian đến nay còn kể, dưới thời vua Lê Thần Tông, chúa Trịnh cho mở khoa thi võ tuyển chọn người tài ra phò vua, giúp nước. Trường thi tổ chức ba môn thi là đấu voi, đấu hổ và xách tạ, Cao Tư đã đăng ký tham gia. Là người có sức khỏe lại mưu trí, khi thi đấu voi, nhằm lúc ruồi đậu vào mắt voi ông đã dùng gậy đập thật mạnh vào vòi voi khiến voi giật mình tháo chạy; đến khi đấu hổ, nhằm lúc hổ mới được thả từ chuồng ra, ông đã dùng sức đập luôn nhiều gậy “phủ đầu” khiến hổ hoảng sợ trốn vào chuồng; còn với thử thách xách tạ, ông một tay xách tạ đi xa hàng trăm thước khiến người có mặt đều thán phục. Nhờ tài năng nổi bật ở khoa thi võ, Cao Tư được tuyển vào đội quân túc vệ của triều đình, từ đây tài năng võ nghệ của ông bắt đầu có đất dụng.

Cũng nhờ sự tháo vát và tài năng võ nghệ, nỗ lực cống hiến hết mình, chỉ vài năm sau đó, Cao Tư đã thăng tiến, giữ đến chức Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ chỉ huy sứ, tước Thọ Quận công.

Bấy giờ ở Đàng Trong các chúa Nguyễn với sự lớn mạnh đã trở thành mối đe dọa lớn với triều đình vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Vì muốn giảm bớt quyền uy của chúa Nguyễn, chúa Trịnh đã cho sứ giả mang sắc phong của vua Lê vào Đàng Trong cho chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Vì chúa Nguyễn Phúc Nguyên “không nhận sắc” nên đích thân Thanh Đô vương Trịnh Tráng đã hộ giá vua Lê vào Đàng Trong đánh chúa Nguyễn. Trong lần vào Đàng Trong “hỏi tội” chúa Nguyễn này, có tướng quân Cao Tư.

“... Đến tháng 11 năm 1633, quân Trịnh lại tiến đánh quân Nguyễn tại Nhật Lệ. Trong những trận đánh ác liệt ở đây, Cao Tư là một vị tướng tài năng đầy mưu lược và dũng cảm, xông pha nơi hiểm nguy lập được nhiều chiến công. Ông được phong từ chức Khâm sai Đô đốc lên Tả Đô đốc năm 1634. Năm 1635 ông được phong tước Thái bảo” (sách Danh nhân Thanh Hóa, tập 6).

Là võ tướng nổi tiếng, sinh thời Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư còn được sử sách ghi chép là một viên quan thanh liêm, chính trực, được lòng dân mến mộ.

Theo đó, năm 1630 (niên hiệu Đức Long) vua Lê sai quan triều đình đi duyệt tuyển đội ngũ quan lại. “Bấy giờ bọn khâm sai võ tướng phần nhiều cậy thế thân cận có công, không theo chiếu lệnh, lấy lạm của dân, công nhiên hối lộ, thải người già, miễn bắt lính, điên đảo bất công, nhiều lần bị chất vấn, quở trách, mà quan duyệt tuyển ở Thanh Hóa như bọn Thái Bá Kỳ càng quá lắm. Duy chỉ có bọn Cao Tư, Nguyễn Quang Minh... là thận trọng giữ phép, không phạm pháp, được lòng dân nhiều, dân đều ca ngợi” (sách Đại Việt sử ký toàn thư).

Với nhiều công trạng trong quan nghiệp, khi già trở về quê hương bản quán, Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư được vua Lê - chúa Trịnh ban cho nhiều ruộng đất: “Thượng tự Nội Tý, hạ chí Bái Ninh” - có nghĩa là đất từ làng Nội Tý (nay thuộc xã Hoằng Đức) đến làng Bái Ninh (nay thuộc xã Hoằng Đạt). Tuy nhiên, từ điền sản vua ban ông không tham lam giữ cho riêng mình mà đem chia cho người dân trong vùng. Ông còn bỏ tiền riêng giúp dân tu sửa văn chỉ, võ chỉ, xây dựng đền miếu trong làng, giúp người nghèo khốn khó...

Không chỉ là quan thanh liêm, đức độ, Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư còn được người đời nhắc nhớ là người con hiếu nghĩa. Tương truyền, trong những ngày niên thiếu, gia cảnh sa sút, khốn khó, hai mẹ con Cao Tư sống bằng nghề bán nước. Khách qua đường dù có tiền hay không cũng được mẹ con ông giúp đỡ. Cũng vì nhà quá nghèo chỉ có một chiếc giường nhỏ, Cao Tư đã nhường cho mẹ, còn ông nằm ổ rơm.

Sau khi Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư qua đời (tài liệu lưu truyền tại địa phương và gia phả dòng họ cho biết ông mất ngày mùng 2 tháng 10 (âm lịch) không rõ năm), thương tiếc vị tướng tài, triều đình đã cử quan lại về lo việc tế lễ. Vua Lê ban sắc phong ghi nhận công trạng, đóng góp và nhân cách làm người của vị quan tài năng: “... Là công thần, thuở thiếu thời đã tòng quân chinh phạt, nhiều lần lập được công lao. Từ lúc khôi phục cơ đồ đến nay vẫn được tin tưởng giao phó cho đảm nhiệm công việc, giữ đạo thuần hậu hiếu nghĩa, lo việc yên ổn lăng mộ tổ tiên, cùng các việc công sai thủy binh nhị kỳ, tiên phong giáp chiến, không dám trái lệnh, giữ đạo toàn nghĩa trước sau, công lao nổi rõ triều thần...” (sách Danh nhân Thanh Hóa, tập 6).

Cùng với việc ban sắc, triều đình phong kiến còn ban ruộng đất cho 8 xã thuộc tổng Bút Sơn xưa canh tác để lấy lộc điền lo việc hương hỏa, thờ cúng Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư. Ban mỹ tự Tuấn Lương tôn thần, người dân làng Thọ Lộc lập đền thờ phụng.

"Năm 2018 đền thờ Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư được tôn tạo khang trang, là một trong những địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh, tham quan, dâng hương của người dân và du khách xa gần. Hằng năm, vào ngày mất của ông (mùng 2 tháng 10) người dân trong vùng lại tập trung về đền thờ tổ chức lễ hội tưởng nhớ tiền nhân", bà Hoàng Thị Hà, thủ nhang đền thờ Thái bảo Thọ Quận công Cao Tư cho biết.

Theo Khánh Lộc/TH onl

Phục kích tiêu diệt địch trong cuộc hành quân Lorraine (1952)-------  Sau đợt 1 của Chiến dịch Tây Bắc, địch thua đau ở ...
03/09/2026

Phục kích tiêu diệt địch trong cuộc hành quân Lorraine (1952)

-------

Sau đợt 1 của Chiến dịch Tây Bắc, địch thua đau ở Nghĩa Lộ, Lai Châu, Sơn La. Ngày 28-10-1952, Bộ chỉ huy quân sự Pháp cử tướng De Linares, Tư lệnh Bắc Bộ trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân đánh lên Phú Thọ, Yên Bái nhằm cắt đứt đường vận chuyển vũ khí, đạn dược, lương thực của ta ở mặt trận Tây Bắc...

Sau khi tấn công ồ ạt vào hữu ngạn sông Thao, càn quét các địa phương ở Phú Thọ, ngày 14-11-1952, tướng François de Linares cho một mũi đánh thọc lên huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái (phía nam tỉnh Phú Thọ), nhưng khu vực này trống không. “Vẫn vắng bóng chủ lực đối phương, trong khi quân du kích dọc đường “làm cho quân số (của Pháp) tiêu hao hằng ngày” (theo cuốn “Lịch sử một cuộc chiến tranh bẩn thỉu”).

Lúc này, quân Pháp mới nhận ra cái đích phải tới của cuộc hành quân Lorraine là thị xã Yên Bái. Chúng lệnh cho lực lượng đang đóng quân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ cấp tốc rút quân lên thị xã Yên Bái. Bộ Tổng Tư lệnh giao cho Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 (lúc này đang trú quân ở huyện Đoan Hùng) tìm cách đánh địch ngay, nếu chậm sẽ mất thời cơ. Nhận định địch sẽ rút quân trên Đường số 2 qua xã Chân Mộng (huyện Đoan Hùng) và xã Trạm Thản (huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) nên Trung đoàn 36 tổ chức phục kích địch tại đây.

Ngày 17-11, địch bắt đầu rút khỏi Đoan Hùng. Khi hành quân qua địa hình rừng núi giữa hai xã Chân Mộng và Trạm Thản, chúng nghi ngờ và cho quân dừng lại sục sạo. Bộ đội ta chấp hành mệnh lệnh rất nghiêm, giữ được bí mật. Sau gần hai tiếng, tên trung tá Kergaravat chỉ huy cuộc rút lui vẫn thận trọng cho quân lùng sục xung quanh. Không thấy dấu hiệu gì nguy hiểm, hắn lệnh cho đơn vị tiếp tục hành quân. Ngoài Đường số 2, xe nổ máy ầm ầm, bộ binh địch bám theo xe. Khi đội hình địch lọt vào trận địa phục kích của Trung đoàn 36, nhận lệnh của trên, các loại hỏa lực của ta từ đồi cao hai bên đường đồng loạt nhả đạn chia cắt đội hình quân địch. Toán đi đầu thoát chết chạy về phía Phú Hộ (nay thuộc thị xã Phú Thọ). Quân ta từ trên đồi, trên rừng tràn xuống nhằm địch nhả đạn. Tiếng nổ vang trời, khói bay nghi ngút trên cả đoạn đường rừng.

Với phương châm đánh nhanh diệt gọn, gần 30 phút chiến đấu, ta đã phá hủy nhiều xe cơ giới của địch. Thừa thắng xốc tới, quân ta truy kích địch đến gần Phú Hộ, tiêu diệt và bắt sống thêm nhiều tên, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Kết quả sau một ngày chiến đấu quyết liệt, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, quân ta đã tiêu diệt và bắt hơn 400 tên địch, phá hủy 44 xe cơ giới, trong đó có 17 xe tăng, xe bọc thép, thu nhiều quân trang, quân dụng của địch. Hai binh đoàn cơ động (GM1 và GM4) bị thiệt hại nặng, trong đó, Tiểu đoàn 2 lê dương thuộc GM4 bị xóa sổ.

------

Báo QĐND - 09/10/2022

Bỏ qua tội giết người cho con traiẢnh: Linhs.vnLê Thánh Tông có rất nhiều cung tần mỹ nữ, những người đẹp đó đã sinh cho...
02/09/2026

Bỏ qua tội giết người cho con trai

Ảnh: Linhs.vn

Lê Thánh Tông có rất nhiều cung tần mỹ nữ, những người đẹp đó đã sinh cho vua tất cả 14 hoàng tử và 20 công chúa. Trong số các hoàng tử, Lê Thánh Tông có lần bỏ qua tội trạng nghiêm trọng của Triệu Vương Lê Thoan, hoàng tử thứ 13 của ông.

Triệu Vương Lê Thoan do bà phi họ Nguyễn, người huyện Kim Trà xứ Hóa Châu (nay thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế) sinh ra. Bà phi này xuất thân ở chốn bình dân, vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc phương Nam, khi dừng chân nghỉ lại tình cờ nhìn thấy bà gánh nước qua, thấy dung nhan xinh đẹp bèn tuyến vào cung,

Về chuyện Triệu Vương Lê Thoan phạm tội nhang Thoan là con thứ 13 của vua Thánh Tông. Mẹ là người xả được bỏ qua, sách Đại Việt thông sử cho hay: "Triệu Vuong Hòa Thược, huyện Kim Trà. Vương từ nhỏ đã thông minh quả cảm. Có người ở quê mẹ ông tới kinh làm việc, đi đến ngoài cửa Đai Hưng, một viên tiểu hoàng môn vừa đi thấy người ấy áo quần lam lũ, lai tranh đường, bên rằng: “Mày ở đâu?”. Người ấy đáp: “Ở Thuận Hóa”. Viên hoàng môn ấy mắng rằng: “Loại sâu bọ này lại dám vô lễ à?”. Lúc ấy, Vương từ chỗ cửa cung cấm đi ra, nghe thấy thế, chọt nổi cơn giận, lấy gậy đánh chết viên ấy. Rồi ông đi tắt vào tâu vua rằng: “Tôi là con thiên tử, mẹ tôi người Thuận Hóa. Viên tiểu hoàng môn nói phạm đến tôi, tôi không nén được cơn giận, trót đã giết mất nó rồi. Như thế là đã mắc tội tự tiện giết người, xin nạp tiền để đền mạng nó”. Nhà vua thương hại tấm lòng của ông, lại cho là có nghĩa khí, cuối cùng không bắt tội".

Nguồn: Thâm cung bí sử triều Hậu Lê, Lê Thái Dũng

LINH HOẠT ĐÁNH CHIẾM CÁC MỤC TIÊU TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA  ------   Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả ...
02/09/2026

LINH HOẠT ĐÁNH CHIẾM CÁC MỤC TIÊU TRONG TỔNG KHỞI NGHĨA

------

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nổi bật là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng suốt lựa chọn và linh hoạt tổ chức đánh chiếm các mục tiêu, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Sớm xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, ngay từ Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5-1941), Đảng ta khẳng định con đường giành thắng lợi là từ khởi nghĩa từng phần ở từng địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa trên cả nước. Tiếp đó, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ (tháng 4-1945) đã khẳng định việc phải tích cực chuẩn bị cuộc tổng khởi nghĩa.

Trước khí thế chuẩn bị tổng khởi nghĩa trên cả nước dâng cao, ngày 12-8-1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng ban bố “Mệnh lệnh khởi nghĩa”. Tiếp đó, đêm 13-8, Ủy ban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, tuyên bố giờ tổng khởi nghĩa đã đến và hạ lệnh: “Hãy tập trung lực lượng, kíp đánh vào các đô thị và trọng trấn của quân địch...”. Đặc biệt, Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng (ngày 14 và 15-8-1945), quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân đứng lên tổng khởi nghĩa trong cả nước. Tiếp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi các lực lượng vũ trang và nhân dân cả nước: “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”. Thực hiện mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân cùng lực lượng du kích, tự vệ chiến đấu và nhân dân các địa phương chuyển từ những cuộc khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa trên phạm vi cả nước.

Một trong những điểm nổi bật là Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục tiêu tổng khởi nghĩa mang tính nhảy vọt, từ khởi nghĩa từng phần giành chính quyền ở địa phương, chuyển lên tổng khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của phát xít Nhật và tay sai, giành chính quyền về tay nhân dân trên phạm vi toàn quốc. Để thực hiện được mục tiêu chiến lược đó, Đảng ta xác định lúc này mục tiêu tiến công của ta không chỉ là những đồn bốt, châu lỵ mà là những căn cứ chính của địch, trọng tâm là các thị trấn (huyện lỵ), thị xã (tỉnh lỵ), thành phố trong phạm vi cả nước. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan, chủ quan ở từng địa phương, các mục tiêu tiến hành khởi nghĩa diễn ra vô cùng đa dạng và phong phú.

Thực tế diễn biến tổng khởi nghĩa trong 5 ngày đầu (từ ngày 14 đến 18-8), cho thấy, hầu hết các tỉnh miền Bắc, một số tỉnh miền Trung lấy mục tiêu khởi nghĩa từ xã, huyện để thăm dò phản ứng của Nhật và cuối cùng kết thúc là mục tiêu giành chính quyền ở tỉnh lỵ. Các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam lấy kết thúc là mục tiêu khởi nghĩa giành thắng lợi ở tỉnh lỵ. Việc tiến hành khởi nghĩa theo các mục tiêu đề ra ở các tỉnh này diễn ra linh hoạt, phù hợp với chủ trương của Đảng, thể hiện tinh thần chủ động tiến công trong tổng khởi nghĩa.

Cao điểm của tổng khởi nghĩa từ ngày 19 đến 26-8. Trong vòng 7 ngày, có 56 trên 65 tỉnh, thành phố và đặc khu khởi nghĩa. Mục tiêu khởi nghĩa ở hơn 30 tỉnh, thành phố bắt đầu từ xã lên huyện lỵ và tỉnh lỵ, từ ngoại thành vào nội thành, rồi tiếp theo là kết thúc ở một số huyện lỵ, xã còn lại. Nhiều tỉnh, thành phố vừa chọn mục tiêu khởi nghĩa ở xã, huyện lỵ trước, vừa chọn mục tiêu khởi nghĩa đồng thời ở cả huyện lỵ và tỉnh lỵ, vừa chọn mục tiêu khởi nghĩa ở các huyện lỵ còn lại. Các tỉnh Bắc Giang, Sơn Tây, Nghệ An, Châu Đốc, Biên Hòa, Lạng Sơn thì chọn mục tiêu khởi nghĩa ở các huyện lỵ, xã đều diễn ra trước, hoặc sau mục tiêu khởi nghĩa ở tỉnh lỵ.

Đặc biệt, thực hiện thắng lợi mục tiêu khởi nghĩa ở các thành phố lớn đã tạo ra bước ngoặt quan trọng của tổng khởi nghĩa. Thắng lợi của khởi nghĩa ở Hà Nội (19-8) đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ các địa phương trong cả nước khởi nghĩa giành chính quyền. Khởi nghĩa thắng lợi ở Huế (23-8), trung tâm chính trị của triều đình phong kiến nhà Nguyễn, buộc vua Bảo Đại phải thoái vị. Tiếp đó, khởi nghĩa thắng lợi ở Sài Gòn (25-8) đã có tác dụng trực tiếp đến khởi nghĩa giành chính quyền ở các tỉnh Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, trong đó có khởi nghĩa thắng lợi là mục tiêu tỉnh lỵ ở các tỉnh Quảng Ngãi, Rạch Giá (27-8); Đồng Nai Thượng, Hà Tiên (28-8). Đến đây, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước cơ bản kết thúc (trừ thị xã Vĩnh Yên bị Quốc dân đảng chiếm đóng, thị xã Lào Cai, Hà Giang, Móng Cái bị quân Tưởng Giới Thạch và tay sai chiếm đóng và thị xã Lai Châu bị quân Nhật từ Lào quay sang chiếm giữ).

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945 để lại nhiều kinh nghiệm quý, trong đó nổi bật là ta sáng suốt chọn các mục tiêu tổng khởi nghĩa, dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng là chính, có lực lượng vũ trang (Giải phóng quân, du kích, tự vệ) hỗ trợ và linh hoạt thực hiện các mục tiêu tổng khởi nghĩa, nên đã giành thắng lợi nhanh, gọn, ít đổ máu. Đó là thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghệ thuật chọn mục tiêu tổng khởi nghĩa, tài tổ chức thực hiện mang tính đặc thù của tổng khởi nghĩa đã giành chính quyền thắng lợi trong cả nước và ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

------

Báo QĐND – 16/08/2026

Người Việt quá khứ có xưng hô như phim cổ trang Trung Quốc?Nhiều cách xưng hô của người Việt xưa đã trở nên xa lạ với ch...
01/09/2026

Người Việt quá khứ có xưng hô như phim cổ trang Trung Quốc?

Nhiều cách xưng hô của người Việt xưa đã trở nên xa lạ với chính người Việt hôm nay, nhưng đó không phải là lý do để chúng ta dễ dãi trưng dụng ngôn ngữ cổ phong từ màn ảnh Trung Quốc.

Gần đây tôi có xem một số phim cổ trang Việt Nam. Tạm gác phục trang, nghi lễ, bối cảnh văn hóa hay tình tiết câu chuyện sang một bên, chỉ bàn riêng lời thoại, cứ hễ nhân vật nói được vài câu, tôi lại cảm thấy bất ổn. Nhân vật lịch sử nói năng hiện đại là một nhẽ. Bên cạnh đó, người ta cố gắng khiến lời thoại trở nên "cổ phong" hơn, nhưng lại không dựa trên kiến thức lịch sử, mà bằng cách sử dụng những từ ngữ trong phim cổ trang Trung Quốc.

Hơn hết, những điều này bắt nguồn từ thói quen nghe nhìn, bởi suốt mấy chục năm qua, người Việt xem nhiều phim cổ trang Trung Quốc, thành ra đã quá quen với những từ "huynh", "muội", "đại nhân", "tiểu nhân", "tại hạ", "bổn cung", "ai gia", "khải bẩm"... Đến mức những cách nói ấy dần trở thành một thứ tín hiệu văn hóa, chỉ cần nhân vật thốt lên vài từ như vậy, người xem lập tức tin rằng đây là cách xưng hô trong quá khứ.

Nói cách khác, phim ảnh đã tạo ra trong đầu chúng ta một thứ "cổ phong tưởng tượng". Vấn đề nằm ở chỗ, những cách xưng hô trong phim ảnh mà chúng ta tưởng là cổ xưa đó chưa chắc đã đúng với cách nói của người Việt trong quá khứ, thậm chí cũng không hoàn toàn là cách nói của người Trung Hoa trong quá khứ. Ngược lại, ngôn ngữ người Việt xưa, nếu thực sự tìm hiểu, có khi chúng ta lại thấy hết sức lạ lẫm. Chỉ cần nhìn vào đại từ nhân xưng thôi cũng đủ thấy nghịch lý ấy.

"Tôi" ngày xưa không hẳn là "tôi" ngày nay

Cách xưng hô của người Việt trong quá khứ phong phú và có thể hết sức xa lạ với chúng ta ngày nay. Thiết kế ảnh: Trần Quang Đức dựa trên tranh Chúa Nguyễn và triều thần trongChu ấn thuyền hội quyển(1609).

Ngày nay, "tôi" là một trong những đại từ ngôi thứ nhất phổ biến nhất trong giao tiếp lịch sự, mang sắc thái tương đối trung tính. Nhưng trong tiếng Việt khoảng một trăm năm trước đây, tôi trước hết có nghĩa là tôi tớ, gia nhân, thuộc hạ, rồi mới được dùng làm đại từ nhân xưng với nghĩa tự hạ mình trước người đối diện.Từ điển Việt - Bồ - La(năm 1651) giải thích: "Tôi: Đầy tớ, gia nhân, thuộc hạ." Và ở một mục khác: "Tôi: cách nói khiêm hạ. Tôi lạy ông: Tôi tôn kính ông", khác với sắc thái trung tính của "tôi" hiện nay.
Các ghi chép thế kỷ XVII cũng cho thấy người Việt khi nói với người bề trên có thể tự xưng là "tôi". Như giáo sĩ Marini, sống ở Đàng Ngoài từ năm 1646 đến 1658, ghi lại những hình thức thưa gửi trong cung đình như "Tôi tâu Đức vua", "Tôi dộng Chúa" [1], "Tôi thân Đức ông", "Tôi chiềng" [2]. Sang thế kỷ XVIII, Đỗ Thế Giai (1709 - 1766) trong các tờ khải dâng vua Lê, chúa Trịnh vẫn mở đầu bằng cách nói: "Tôi cẩn khải vâng lạy Đức bề trên" [3]. Đầu thế kỷ XIX, Lê Chất (1769 - 1826) trong tờ tấu chữ Nôm gửi vua Gia Long đã viết: "Tấu vái Đức hoàng thượng muôn muôn năm cao minh ngự lãm", cuối tờ tấu viết: "Chúng tôi thật lo thật sợ cúi vái. Đức hoàng thượng muôn muôn năm. Ngày 10 tháng 12 năm Gia Long thứ 16 (1817). Bề tôi Lê Tông Chất cẩn tấu." [4] v.v.

Như vậy, "tôi" đã trải qua một quá trình biến đổi đáng chú ý: từ một danh từ chỉ thân phận lệ thuộc, trở thành cách tự xưng khiêm hạ, rồi dần mất đi sắc thái thấp kém để trở thành đại từ lịch sự và tương đối trung tính như ngày nay. Nếu không nắm được sự biến đổi về sắc thái lịch sử ấy, chúng ta rất dễ lấy hệ thống xưng hô hiện đại áp đặt vào miệng người xưa.

Một ông vua xưng "tao"

Ngược lại, có những từ ngày nay nghe rất suồng sã, thậm chí thô tục, nhưng trong quá khứ lại không hoàn toàn mang đúng sắc thái như người Việt cảm nhận hiện nay.

TrongTừ điển Việt - Bồ - La(năm 1651), Alexandre de Rhodes phân biệt khá rõ: Ta là cách người trên nói với người dưới, nhưng người dưới ấy vẫn thuộc hạng được coi trọng. Còn tao là cách người trên nói với người ở địa vị rất thấp, so với mình, chẳng hạn như cha nói với con, người quyền quý nói với kẻ tiện dân. Bởi vậy, đọcThiền tông bản hạnhcủa Chân Nguyên, soạn vào khoảng cuối thế kỷ XVII - đầu XVIII, chúng ta có thể bắt gặp Phật hoàng Trần Nhân Tông nói với tùy tùng: "Thị tòng bay đi cùng tao, thăm xem dân thế dường nào cho hay!" Hoặc giả: "Bay! Lòng tao thuở này muốn tới Ngọa Vân." Thậm chí: "Gọi lấy Bảo Sát cho tao...", "Pháp Loa tao đã truyền lòng..."

Như vậy, một vị vua có thể tự xưng là tao, và gọi kẻ hầu người hạ là bay. Nếu đưa nguyên những câu ấy vào phim lịch sử ngày nay, có lẽ không ít khán giả sẽ phản ứng: Phật hoàng sao lại ăn nói bỗ bã như thế? Nhưng chính phản ứng đó lại cho thấy một vấn đề thú vị: ngữ cảm của chúng ta thuộc về thế kỷ XXI, không phải thế kỷ XVII, càng không phải thế kỷ XIII. Từ ngữ vẫn còn đó, nhưng quan hệ xã hội và sắc thái biểu cảm chứa đựng trong chúng đã thay đổi.

Những cách xưng hô xa lạ

Thế giới đại từ nhân xưng của người Việt trước đây còn phong phú và xa lạ hơn thế. Người Việt từng dùngphôtrước danh từ hoặc đại từ để biểu thị số nhiều, gần với những từ "các", "chúng", "bọn" ngày nay. Ta bắt gặp:

"Phô người học đạo" - những người học đạo. (Chân Nguyên,Thiền tông bản hạnh)

"Phô ngươi" - các ngươi. (Huình Tịnh Của,Đại Nam quốc âm tự vị)

"Nhắn nhủ phô bay đạo cái con" - nhắn nhủ bọn bay về đạo làm con. (Nguyễn Trãi,Quốc âm thi tập)

"Tôi đã nói ra cùng phô ông" - tôi đã nói với các ông. (Alexandre de Rhodes,Phép giảng tám ngày)

"Bấy nhiêu lời cha đã nói là lời trối sau hết thì phô con phải giữ." (Philiphê Bỉnh,Sách sổ sang chép các việc)

Bên cạnh đó, còn cómin, một cách người trên tự xưng với người dưới, tương đương "ta", "tao" trong một số ngữ cảnh.

TrongTruyệnKiều,Nguyễn Du viết: "Này này sự đã quả nhiên/Thôi đà cướp sống chồng min đi rồi." Hay Tú Xương (1870 - 1907) trong bài thơThi cơm rượucũng viết: "Kể tuổi nhà min ngoại bốn mươi, văn min khấp khểnh, học min lười." (Kể về tuổi tác thì nhà ta đã ngoài bốn mươi, đường văn chương của ta thì khấp khểnh, học thì ta lười).
Lại nhưqua, cách người chồng tự xưng với vợ, hoặc người lớn tuổi tự xưng với người ít tuổi hơn: "Bậu nói với qua, bậu không lang chạ, vỡ lở ra rồi, đành dạ bậu chưa" (Ca dao); "Dân rằng: Lũ nó còn đây, Qua xem tướng bậu thơ ngây đã đành" (Lục Vân Tiên) v.v.

Một thế giới xưng hô như vậy nếu được phục dựng nguyên vẹn trên màn ảnh hôm nay có lẽ sẽ khiến phần đông khán giả cần... phụ đề tiếng Việt giải thích để hiểu tiếng Việt. Và đó mới chính là bài toán khó của người làm phim cổ phong.

"Giả cổ" khác với "giả Trung Quốc"

Lịch sử rõ ràng không chỉ hiện ra qua phục trang mà còn qua lời ăn tiếng nói. Nhưng làm phim cổ trang không đồng nghĩa với việc phục dựng nguyên xi ngôn ngữ của một thời đại quá vãng.
Nếu toàn bộ nhân vật của một bộ phim lấy bối cảnh thế kỷ XVII nói đúng từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm, hệ thống xưng hô của thế kỷ đó, bộ phim có thể rất thú vị đối với nhà ngôn ngữ học hay người yêu thích lịch sử, nhưng chưa chắc còn là một tác phẩm điện ảnh dành cho công chúng.

Ngôn ngữ lịch sử trên màn ảnh, vì vậy, tất yếu phải là một thứ ngôn ngữ giả cổ. Nhưng "giả cổ" khác với "giả Trung Quốc".

Người viết kịch bản trước hết phải biết người Việt ở thời đại mình đang kể thực sự có thể đã nói như thế nào. Phải biết quan hệ vua - tôi, quan - dân, cha - con, vợ - chồng, anh - em, chủ - tớ được biểu đạt bằng những đại từ nhân xưng nào; biết cùng một con người khi tự xưng trước vua, trước bậc trưởng thượng khác với khi nói với thuộc hạ, với vợ, với con, với bạn bè ra sao. Sau khi biết được những gì là thực tế lịch sử, người viết có quyền lựa chọn, giữ lại bao phần. Có những từ cổ không cần loại bỏ nếu người hiện đại vẫn hiểu được. Có những từ nên phục nguyên để tạo sắc thái thời đại. Có những cách nói quá xa lạ cần được thay thế bằng một hình thức hiện đại hơn nhưng tương đương về quan hệ xã hội và sắc thái biểu cảm v.v.

Nếu chúng ta có thể bỏ rất nhiều công sức nghiên cứu một tấm áo, một chiếc mũ, một thanh gươm để phục dựng diện mạo nhân vật cho chân thực với bối cảnh lịch sử thì chúng ta cũng không nên tiếc công sức nghiên cứu lời ăn tiếng nói của tổ tiên từ cả trăm, ngàn năm trước, thay vì trưng dụng một cách dễ dãi thứ ngôn ngữ cổ phong quen tai từ màn ảnh nước láng giềng.
---

Chú thích:
[1] Dộng: Từ thưa gửi với chúa Trịnh.Từ điển Việt - Bồ - La(1651) giải thích: "Tiếng danh dự mà bất cứ ai bắt đầu thưa với Chúa xứ Đông Kinh. Dộng Chúa muôn năm; Làm khải dộng chúa".
[2] Bản báo cáo "Sứ mệnh của những nhà truyền giáo Dòng Tên tại Nhật Bản, đặc biệt là nhiệm vụ tại Đàng Ngoài" của cha Marini. Dẫn theoNhững lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Namcủa Mario Sica (Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành năm 2013).
[3] Gia phả họ Ðỗ ở thôn Ðông Ngạc: 杜族家譜 - Đỗ tộc gia phả.
[4] Dẫn theoTạp chí Hán Nômsố 6 (121)/2013.

Nguồn: Trần Quang Đức/Tia Sáng

Mở “cánh cửa thép” Đồng Dù  ---  Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về trận đánh tại Căn cứ Đồng Dù (Củ Chi) trong ...
01/09/2026

Mở “cánh cửa thép” Đồng Dù

---

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ký ức về trận đánh tại Căn cứ Đồng Dù (Củ Chi) trong Chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4-1975 vẫn in đậm trong tâm trí Anh hùng LLVT nhân dân Vũ Thanh Sơn, nguyên Trung đội trưởng Trung đội 7, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 (Quân đoàn 3).

Ôn lại trận đánh, Anh hùng Vũ Thanh Sơn cho biết: Đồng Dù là căn cứ quân sự hỗn hợp quy mô lớn, nằm bên Quốc lộ 1, án ngữ phía Tây Bắc Sài Gòn, được ví như “cánh cửa thép” bảo vệ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch. Căn cứ rộng khoảng 7km², là nơi đóng quân của Sư đoàn 25 ngụy, biệt danh “Tia chớp nhiệt đới”, với quân số khoảng 3.000 tên; có sân bay dã chiến, hơn 30 xe tăng, xe bọc thép, gần 5.000 khẩu súng các loại và 18 khẩu pháo lớn. Bao quanh căn cứ là hệ thống công sự kiên cố, nhiều lớp hàng rào dây thép g*i, lô cốt và bãi mìn bố trí dày đặc.

Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm Đồng Dù có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là một trong những cứ điểm then chốt án ngữ hướng tiến công của ta vào Sài Gòn-Gia Định. Đêm 28, rạng sáng 29-4-1975, đơn vị nhận lệnh tiến công, giải phóng căn cứ, mở đường cho các lực lượng của ta tiến vào trung tâm Sài Gòn. Quán triệt phương châm tác chiến bí mật, bất ngờ, đánh nhanh, mạnh, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, 5 giờ 30 phút ngày 29-4, pháo binh ta đồng loạt giội lửa vào Sở chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy. Những trận pháo liên tiếp nhằm phá hủy các mục tiêu quan trọng, làm tê liệt hệ thống chỉ huy, thông tin liên lạc, tạo điều kiện cho bộ binh và xe tăng mở cửa đột phá.

Sau khoảng 30 phút pháo kích, địch phát hiện hướng tiến công của ta, lập tức điều bộ binh, xe tăng ra bịt các cửa mở. Máy bay, pháo binh, súng cối của địch đồng loạt trút hỏa lực vào đội hình tiến công, trong đó có cả đạn hóa học. Trên hướng tiến công chủ yếu, Đại đội 3, Tiểu đoàn 1 bị địch chống trả quyết liệt ngay tại cửa mở số 1. Khi bộ đội mở đến lớp hàng rào trong cùng, hỏa lực địch từ các công sự và xe tăng bắn chặn dữ dội, khiến nhiều chiến sĩ thương vong, đội hình tiến công có lúc bị chững lại.

Nhớ lại thời khắc sinh tử ấy, Anh hùng Vũ Thanh Sơn kể: “Chiến sự diễn ra ác liệt ngay từ những phút đầu. Khi bộ đội ta xung phong đánh cửa mở, xe tăng địch trong công sự bắn chặn làm chiến sĩ ta thương vong nhiều, không phát triển được. Trong tình thế đó, tôi vừa chỉ huy chiến đấu, vừa sử dụng súng B41 của đồng đội bắn cháy hai xe tăng M48, một xe M113 và phá hủy hai lô cốt địch ở khu vực đầu cầu, tạo điều kiện cho bộ binh ào ạt xung phong đánh chiếm đầu cầu”.

Bị hỏa lực ta đánh mạnh, tuyến phòng thủ của địch từng bước bị phá vỡ. Xe tăng ta vượt qua cửa mở, đột phá vào bên trong căn cứ, phối hợp với bộ binh đánh chiếm các mục tiêu quan trọng. Đến 7 giờ 30 phút, quân ta làm chủ tuyến công sự thứ nhất, tạo bàn đạp tiếp tục phát triển tiến công vào bên trong cứ điểm. Trước sức tiến công mạnh mẽ, liên tục của quân ta, hệ thống phòng thủ của Sư đoàn 25 ngụy từng bước bị đập tan. Sau 5 giờ chiến đấu, quân ta làm chủ căn cứ Đồng Dù.

Với những chiến công và thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, ngày 3-6-1976, đồng chí Vũ Thanh Sơn vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

------

Báo QĐND - 16/08/2026

Một gia đình trí thức “Hổ phụ sinh hổ tử”Trong lịch sử giáo dục và khoa học Việt Nam hiện đại, có những gia đình tạo nên...
01/09/2026

Một gia đình trí thức “Hổ phụ sinh hổ tử”

Trong lịch sử giáo dục và khoa học Việt Nam hiện đại, có những gia đình tạo nên dấu ấn sâu đậm qua nhiều thế hệ. Điển hình trong đó, phải kể đến gia đình Giáo sư, liệt sĩ Dương Quảng Hàm.

Trong khi người cha là một học giả đặt nền móng cho ngành văn học sử Việt Nam, tám người con đều trưởng thành, trở thành những trí thức tiêu biểu trên nhiều lĩnh vực từ giáo dục, y học, báo chí, triết học đến hoạt động cách mạng.

Giáo sư Dương Quảng Hàm sinh ngày 14/7/1898 tại làng Phú Thị, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên. Cụ xuất thân trong một gia đình có truyền thống Nho học và yêu nước. Cha cụ là Dương Trọng Phổ, một trong những người sáng lập ngôi trường Đông Kinh Nghĩa Thục mang tư tưởng cải cách nổi tiếng đầu thế kỷ XX. Anh trai của cụ là Dương Bá Trạc cũng tham gia phong trào yêu nước, sau đó cùng cha bị thực dân Pháp bắt, đày ra Côn Đảo.

Từ sớm, Dương Quảng Hàm sớm bộc lộ năng khiếu nghiên cứu, giảng dạy. Cụ được xem là người có công đặt nền móng cho bộ môn văn học sử ở Việt Nam với nhiều công trình có giá trị như Quốc văn trích diễm, Việt Nam giáo khoa thư (bậc cao đẳng tiểu học), Việt Nam văn học sử yếu và Việt Nam thi văn hợp tuyển. Đến nay, nhiều tác phẩm vẫn được đánh giá là những tài liệu có ý nghĩa trong nghiên cứu văn học Việt Nam.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ được giao trọng trách trở thành Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Bưởi - Chu Văn An trong chính quyền mới bấy giờ.

Tuy nhiên, cuộc đời của vị giáo sư tài hoa khép lại khá sớm, theo tài liệu được Bảo tàng Hà Nội đăng tải. Đêm 19/12/1946, sau Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn dân sơ tán khỏi Hà Nội, đó cũng là thời điểm gia đình cụ ly tán.

Khi ấy, vợ con cụ đi trước, còn cụ ở lại chờ nhận nhiệm vụ mới. Không ai ngờ đó cũng là lần cuối cùng gia đình được gặp cụ. Sự hy sinh của Giáo sư Dương Quảng Hàm trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến trở thành mất mát lớn đối với gia đình và nền giáo dục nước nhà.

Điều đặc biệt ở gia đình cụ Dương Quảng Hàm là cả tám người con, gồm bốn trai và bốn gái, đều trưởng thành trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đều có chung tinh thần phụng sự đất nước.

Theo ông Dương Tự Minh - con út của Giáo sư Dương Quảng Hàm, người học giỏi nhất nhà là anh cả Dương Bá Bành.

Ông Dương Bá Bành thuộc nhóm sinh viên đầu tiên tốt nghiệp Trường Đại học Y dược khoa và là một trong những bác sĩ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp trao bằng tốt nghiệp năm 1945, theo thông tin từ Báo Quân đội nhân dân.

Ngay sau đó, ông tình nguyện Nam tiến, phụ trách một trạm quân y tiền phương ở Mặt trận Nam Trung Bộ. Khi Hà Nội bị tạm chiếm, ông tiếp tục công tác tại Nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức), sau này từng giữ cương vị Giáo sư, Giám đốc Trường Nữ hộ sinh Hà Nội.

Người con thứ hai, Dương Thị Ngân, ghi dấu ấn trong lịch sử phát thanh Việt Nam. Bà là một trong những phát thanh viên đầu tiên đọc câu xướng nổi tiếng: "Đây là Đài Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".

Ngày 7/9/1945, bà cùng ông Nguyễn Văn Nhất thay nhau đọc toàn văn Tuyên ngôn Độc lập trên sóng phát thanh, đánh dấu sự ra đời của Đài Tiếng nói Việt Nam. Đến ngày 19/12/1946, chính bà là người đọc Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên sóng quốc gia. Trong thời gian công tác, bà còn hai lần được gặp Bác Hồ và trực tiếp nghe Người căn dặn về trách nhiệm của người làm phát thanh.

Người con thứ ba là Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động Dương Trọng Bái, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ông được đồng nghiệp nhận xét bằng bốn chữ "Mô phạm truyền gia" vì phong cách chuẩn mực, khiêm nhường và tận tụy với nghề.

Trong sự nghiệp khoa học, ông là một trong ba nhà vật lý đầu tiên của Việt Nam được cử sang Viện Dubna (Liên Xô cũ) nghiên cứu vật lý hạt nhân; tham gia biên soạn bộ sách giáo khoa Vật lý đầu tiên dành cho học sinh THPT và xây dựng hệ thống thuật ngữ tiếng Việt cho ngành Vật lý.

Người con thứ tư là Dương Thị Thoa, còn được biết đến với bí danh Lê Thi. Bà là một trong hai người phụ nữ trực tiếp kéo Quốc kỳ tại Quảng trường Ba Đình trong lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945.

Thời trẻ, bà là học sinh xuất sắc, từng nhận giải thưởng của Toàn quyền Đông Dương. Sau Cách mạng Tháng Tám, bà trở thành cán bộ tiền khởi nghĩa, rồi được cử học tại Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc. Sau này, bà là Giáo sư triết học, nguyên Viện trưởng Viện Triết học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam.

Người con thứ năm là Dương Hồng, một nhà giáo dạy Sinh học. Ông từng tham gia lực lượng tự vệ Hà Nội thời trẻ, đồng thời nổi tiếng với khả năng sử dụng thành thạo cả hai tay. Trong giảng dạy, ông thường dùng tay trái để vẽ hình minh họa, tay phải viết chú thích lên bảng. Ngoài công tác giảng dạy, ông còn tự biên soạn nhiều cuốn từ điển như Từ điển Pháp - Việt, Từ điển Sinh vật và tự vẽ bộ tranh động vật phục vụ việc học.

Người con thứ sáu, Dương Thị Duyên, là phóng viên Việt Nam Thông tấn xã. Bà là nữ phóng viên duy nhất của Việt Nam tham dự Hội nghị Paris về Việt Nam tại Pháp. Ngoài nhiệm vụ đưa tin, bà còn tham gia tuyên truyền, vận động kiều bào theo sự phân công của đoàn công tác. Thông thạo tiếng Anh và tiếng Pháp, bà từng là Trưởng ban Tin Thế giới - nữ trưởng ban đầu tiên của Thông tấn xã Việt Nam, sau đó có thời gian chuyển sang phụ trách Ban Quốc tế của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Người con thứ bảy, Giáo sư, Bác sĩ Dương Thị Cương, tiếp nối con đường y khoa của anh cả. Bà từng là Trưởng bộ môn Phụ sản Trường Đại học Y Hà Nội, Giám đốc Bệnh viện C (nay là Bệnh viện Phụ sản Trung ương), đồng thời là đại biểu Quốc hội khóa IV. Bà cũng là nhà khoa học nữ đầu tiên của ngành y - dược Việt Nam được trao Giải thưởng Kovalevskaia nhờ những nghiên cứu về ung thư phụ khoa, sức khỏe thai nhi và điều trị hiếm muộn.

Người con út Dương Tự Minh tham gia hoạt động cách mạng từ năm 13 tuổi. Ông từng tham gia in và phát hành báo Nhựa sống trong vùng địch kiểm soát, hai lần bị bắt giam tại Nhà tù Hỏa Lò. Sau hòa bình, ông từng giữ nhiều vị trí như Trưởng ban Trường học Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Giám đốc Khách sạn Hà Nội và Phó ban Liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò. Số tù VN2017 của ông hiện vẫn được lưu giữ như một kỷ vật lịch sử.

Với những đóng góp ở nhiều lĩnh vực khác nhau, gia đình Giáo sư Dương Quảng Hàm vì thế luôn được nhắc đến như một trong những gia đình trí thức tiêu biểu của Thăng Long - Hà Nội, là minh chứng sinh động cho câu nói: "Hổ phụ sinh hổ tử."

(Theo QĐND, Bảo tàng Hà Nội...)

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84965898661

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hội yêu Lịch sử - Khí tài Quân sự:

Shortcuts

Share

Category