Hà Nội 1946

Hà Nội 1946 Hà Nội 1946 - Quyết tử để Tổ quốc Quyết sinh
(1)

Khu Đồng NhânNăm 1946, Đồng Nhân là 1 trong 7 khu hành chính thuộc Liên khu 2 Hà Nội, gồm làng Đồng Nhân và vùng bãi nằm...
13/06/2026

Khu Đồng Nhân

Năm 1946, Đồng Nhân là 1 trong 7 khu hành chính thuộc Liên khu 2 Hà Nội, gồm làng Đồng Nhân và vùng bãi nằm bên ngoài đê của Lãng Yên, Lạc Trung, lần lượt tiếp giáp với Khu Long Biên của Liên khu 1 ở phía bắc, Khu Lò Đúc của Liên khu 2 bên trong đê và Khu Mê Linh ngoại thành ở phía nam. Địa giới Khu Đồng Nhân năm 1946 về sau thuộc Phường Bạch Đằng, Quận Hai Bà Trưng (cũ) và ngày nay thì thuộc Phường Hồng Hà.

Lực lượng vũ trang toàn Khu Đồng Nhân gồm dân quân các làng, tự vệ công nhân khu Lò Lợn, cảng Phà Đen... tương đương khoảng 1 đại đội trang bị vũ khí thô sơ. Lực lượng chiến đấu chính quy của Pháp đóng trên địa bàn có 3 tàu đổ bộ nhẹ đóng tại cảng Phà Đen, trên bờ có 1 trung đội hải quân lục chiến 50 người (thuộc Chi đoàn 3, Trung đoàn thiết giáp hải quân lục chiến) đóng tại xưởng sửa chữa của Công ty vận tải ô tô Đông Dương (Société des Transports Automobiles Indochinois - STAI) trong cảng (các tư liệu Việt Nam hay gọi chệch là đồn Sta-ke từ chữ STAI Quai, nghĩa là bến STAI). Ngoài ra liền kề là bệnh viện Đồn Thủy được bảo vệ bởi 1 trung đội bộ binh 20 người và 1 trung đội hải quân lục chiến 30 người, chưa kể gần 300 thương bệnh binh và lính quân y cũng đã được trang bị vũ khí từ chiều 19-12-1946.

Trong đêm 19-12-1946, tự vệ Đồng Nhân tham gia cùng lực lượng Tiểu đoàn 77 và 212 Vệ quốc đoàn cùng dân quân tự vệ các khu bạn đánh vào Đồn Thủy và bao vây đồn STAI cảng Phà Đen nhưng không hạ được. Ngay trong sáng 20-12-1946, 1 phân đội thiết giáp Pháp đã tiến xuống giải vây, bắt tay được với quân đồn trú ở Phà Đen. Chiều 21-12-1946, phối hợp với cuộc hành quân giải tỏa mặt nam Đồn Thủy, quân Pháp dùng 1 trung đội bộ binh (thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn bộ binh Thuộc địa số 6) và 1 trung đội bộ binh cơ giới đi halftrack (thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn cơ giới hóa, Liên đoàn thiết giáp Bắc Kỳ) tiến hành càn quét khu vực Đồng Nhân, Lãng Yên... Theo hồi ức của CCB Pháp Charles Roffo (lúc đó là trung sĩ tiểu đội trưởng thuộc trung đội hỏa lực của Đại đội 2 Tiểu đoàn 1/6), đơn vị của ông này đã đánh 1 trận khá ác liệt để hỗ trợ cho số lính thủy thủ của tàu đổ bộ đang bị dân quân Việt Nam bao vây tấn công trên bãi sông. Mặc dù được giải cứu, theo Roffo đơn vị hải quân Pháp bị thiệt hại nặng với 12/29 người tử trận, phía Việt Nam cũng hy sinh khá nhiều do chênh lệch về vũ khí.

Sau đợt chiến đấu này Khu Đồng Nhân bị triệt hạ. Các lực lượng vũ trang Việt Nam tập trung về đóng giữ tuyến phòng ngự nằm dọc theo đường bờ sông từ Lương Yên về Vĩnh Tuy cho đến giữa tháng 1-1947.

Ảnh:
1. Bản đồ khu Đồng Nhân qua các thời kỳ.
2-6. Mặt trận bờ sông Lương Yên trong quá trình chiến đấu cuối tháng 12-1946 đầu tháng 1-1947. Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản.

Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản: Dân quân ngoại thành làm nhiệm vụ vận chuyển thuốc men, vật tư y tế của bệnh viện Bạch Mai (...
09/06/2026

Ảnh của PV Nguyễn Bá Khoản: Dân quân ngoại thành làm nhiệm vụ vận chuyển thuốc men, vật tư y tế của bệnh viện Bạch Mai (nhà thương Vọng) về quân y viện ở Văn Điển cuối tháng 12-1946. Người đeo túi đứng giữa ở hàng đầu là bà Cao Bích Thu (Hội Hồng thập tự Việt Nam), vợ của PV Nguyễn Bá Khoản.

Gần đây vài người bạn có hỏi tôi thông tin liên quan đến lịch sử các làng xã cũ bên sông Hồng, mục đích là gì thì chắc k...
04/06/2026

Gần đây vài người bạn có hỏi tôi thông tin liên quan đến lịch sử các làng xã cũ bên sông Hồng, mục đích là gì thì chắc không cần phải nói cũng đoán được.

Chuyện này khiến tôi suy nghĩ khá nhiều. Bức tranh lịch sử nói chung, Hà Nội 1946 nói riêng được ghép từ rất nhiều mảnh lịch sử địa phương lớn nhỏ. Từ năm ngoái tôi đã nghe vài người nhắc đến nguy cơ mất mát lịch sử sẽ xuất hiện sau quá trình thay đổi đơn vị hành chính, khi mà đi kèm là thay đổi về nhân sự, những người phụ trách công tác lịch sử, văn hóa địa phương có thể sẽ bị thay thế bằng một lớp người khác có ít sự quan tâm, gắn bó trực tiếp với chính địa phương đó hơn.

Thực ra công bằng mà nói thì mất mát lịch sử theo thời gian là khó tránh. Đơn vị hành chính, dân cư, xã hội... là những thứ luôn biến động và mỗi lần thế là sẽ có xói mòn lịch sử. Tuy nhiên đó là những biến động từ từ. Còn đột biến lớn đến mức đảo lộn hoàn toàn cả một vùng đất lớn, một quần thể dân cư lớn thì bản thân tôi cũng không hình dung được sau đó sẽ ảnh hưởng như thế nào.

Có lẽ trong thời gian tới tôi sẽ cố gắng viết nhiều hơn về những mảnh ghép địa phương đó, khi mà vẫn còn có thể tận mắt gặp được các dấu tích lịch sử như thế này.

Thượng úy QĐNDVN Đỗ Văn Đa, CCB Trung đội Pháo đài Láng năm 1946.Năm 1946 cụ Đỗ Văn Đa là 1 trong 9 thanh niên địa phươn...
31/05/2026

Thượng úy QĐNDVN Đỗ Văn Đa, CCB Trung đội Pháo đài Láng năm 1946.

Năm 1946 cụ Đỗ Văn Đa là 1 trong 9 thanh niên địa phương Yên Lãng được nhập ngũ vào biên chế bộ đội pháo binh ở Pháo đài Láng. Cụ Đỗ Văn Đa cùng với 2 người nữa được biên chế về khẩu đội số 2 làm nhiệm vụ tiếp đạn (thao tác chỉnh tầm, hướng, cắt ngòi, tác xạ do các chiến sĩ từng là cựu pháo thủ trong quân đội Pháp phụ trách). Trong đêm 19-12-1946, khẩu đội số 1 bắn trước, khẩu đội số 2 bắn sau, mỗi khẩu đội bắn cấp tập 3 viên vào mục tiêu Thành Hà Nội làm pháo lệnh cho Toàn quốc kháng chiến.

Pháo đài Láng chiến đấu đến đầu tháng 1-1947 thì được lệnh hủy khí tài và rút lui khi quân Pháp đánh ra ngoại thành. Theo thông tin của BTLSQS, cụ Đỗ Văn Đa tiếp tục tham gia kháng chiến chống Pháp ở Đại đoàn 308, sau đó đến kháng chiến chống Mỹ chuyển sang PKKQ và ra quân năm 1973.

Cụ Đỗ Văn Đa sinh năm 1925, nếu năm nay cụ vẫn còn sống thì cũng đã ở tuổi trăm rồi.

Xưa cũng như nay, tiết kiệm điện nước vào mùa hè 🥵 luôn là vấn đề cấp thiết!
26/05/2026

Xưa cũng như nay, tiết kiệm điện nước vào mùa hè 🥵 luôn là vấn đề cấp thiết!

Tôi nhập ngũ tháng 2-1946. Khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra thì tôi đã kịp học xong khóa đào tạo quân sự cấp tốc ở Hà Tây...
24/05/2026

Tôi nhập ngũ tháng 2-1946. Khi Toàn quốc kháng chiến nổ ra thì tôi đã kịp học xong khóa đào tạo quân sự cấp tốc ở Hà Tây và được phân công về Hà Nội để huấn luyện tự vệ, chuẩn bị kháng chiến. Tôi nhớ khá rõ, sau khi nổ súng tiến công địch được ít ngày, đội tự vệ Duy Tân (Liên khu II) do tôi làm đội trưởng, được lệnh bám trụ tại nhà Pha-xi-đeo (Nhà máy thuốc lá Viễn Đông) để đánh địch. Các cuộc chiến đấu ở Liên khu II đều rất ác liệt, nhưng có lẽ cũng đã có nhiều anh kể rồi. Tôi chỉ xin kể việc chúng tôi đi tiễu trừ bọn Việt gian ngay khi cả mặt trận Hà Nội đang rộ lên tiếng súng.

Những ngày đầu chiến đấu, tình hình tiếp tế hậu cần cho các tổ, ụ chốt còn lộn xộn lắm. Chị em từ ngoại thành gánh cơm vào, cứ gặp ai là cấp cho người ấy. Vì thế chỗ thì được nhiều, chỗ thì được ít. Chính vì vậy, có chỗ đã phải ăn đường phèn trừ bữa để chiến đấu. Địa bàn tác chiến cũng chưa được phân định rạch ròi, nên chỗ lực lượng đông, chỗ lại rất mỏng. Nhiều chỗ các tổ chiến đấu giáp nhau, nhưng cũng chưa có kế hoạch hiệp đồng, vì thế không biết được nhau. Lợi dụng tình trạng này, địch đã cho một số tên Việt gian trà trộn vào đội ngũ của chúng ta. Bọn này thường lảng vảng trên các tuyến giao liên để bắt cóc, thủ tiêu liên lạc và lực lượng tiếp tế. Đã có một số người tự nhiên mất tích mà ta không phát hiện ra. Sau hơn 10 ngày chiến đấu, anh Phùng Thế Tài được điều về làm chỉ huy Liên khu thay cho anh Quang Tuần. Khi anh Tài đi kiểm tra tình hình liên khu, anh thấy việc tiếp tế như thế là không khoa học, nên đã chỉ đạo cho các bộ phận chấn chỉnh lại tổ chức, hình thành đường dây liên lạc khá chặt chẽ giữa các bộ phận. Cơm nắm và thịt trâu luộc từ ngoại thành đem vào, được cấp đến tận tay chiến sĩ. Cũng từ việc làm này, chúng tôi bỗng phát hiện ra có một số người không có cơm nắm và thịt trâu mà họ ăn bằng đồ hộp. Thấy lạ, chúng tôi liền báo cáo lên chỉ huy liên khu, các anh ấy liền cho người theo dõi. Một, hai hôm sau tôi được lệnh lên gặp chỉ huy liên khu để nhận nhiệm vụ. Các anh giao cho tôi tổ chức, chỉ huy 4 tiểu đội chuyên đi tiễu trừ bọn Việt gian đang trà trộn vào vị trí đóng quân của ta. Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi rải người dọc các tuyến tiếp tế, liên lạc, tập trung vào thời điểm bộ đội ta ăn cơm. Bằng cách này chúng tôi đã phát hiện và tóm gọn 12 tổ Việt gian, tổng cộng hơn 40 tên. Những tên này cơ bản bị bắt khi chúng đang khui đồ hộp ra để ăn. Chúng tôi tập hợp bọn này lại, giao cho liên khu xử lý. Một số người sau này đã nhận ra lỗi lầm của mình và biên chế vào đội quân phục vụ chiến đấu. Nhờ tiễu trừ được bọn Việt gian nên địa bàn Liên khu II đã khá ổn định.

Sau đợt tiễu trừ Việt gian này, đội tự vệ Duy Tân tiếp tục được giao nhiệm vụ bám trụ chiến đấu tại Tiểu khu chợ Hôm. Trong đội tự vệ của tôi phần lớn anh em là công nhân, nông dân chưa được học quân sự bao nhiêu nhưng chiến đấu rất dũng cảm. Chúng tôi vừa đánh địch, vừa tự bồi dưỡng kiến thức quân sự cho mình. Cho đến khi được sáp nhập vào đơn vị bộ đội chính quy thì chúng tôi từ chỗ chỉ có 8 khẩu súng đã tăng lên 24 khẩu…
--------------------
Hồi ức ông Hoàng Giáp (Hoàng Tấn Anh), nguyên Đội trưởng Đội Tự vệ Duy Tân thuộc Khu Chợ Hôm, Liên khu 2; sau đó chuyển thành Trung đội 1, Đại đội 4, Tiểu đoàn 64 Vệ quốc đoàn.

------------
Ảnh: Bộ phận tiếp tế đưa bữa ăn tới trận địa cho các đơn vị chiến đấu.

Đại tá Nguyễn Văn Triệu (1919-1994)Ông Nguyễn Văn Triệu là người dân tộc Kinh, quê ở Tiêu Long, Tương Giang, n...
20/05/2026

Đại tá Nguyễn Văn Triệu (1919-1994)

Ông Nguyễn Văn Triệu là người dân tộc Kinh, quê ở Tiêu Long, Tương Giang, nay thuộc Tam Sơn, Bắc Ninh. Ông tham gia cách mạng ở Lạng Sơn cuối năm 1940, được cử đi học tại trường quân sự của QDĐ Trung Quốc ở Liễu Châu từ 1941-1944, về nước và làm cán bộ Việt Minh hoạt động ở vùng chiến khu Cao – Bắc – Lạng trong giai đoạn tiền khởi nghĩa.

Sau CMT8, Nguyễn Văn Triệu được cử làm chính trị viên tiểu đoàn Giải phóng quân đóng tại Trại Bảo an binh Hà Nội, sau đó lần lượt giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Quốc gia (sau đổi thành Tiểu đoàn 101) - 1 trong 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân của Hà Nội, Trưởng phòng Tham mưu và Trưởng phòng Chính trị Khu đặc biệt Hà Nội. Từ tháng 8-1946 ông trở lại chỉ huy Tiểu đoàn 101 trực tiếp bảo vệ Bắc Bộ Phủ và làm ủy viên Ban Tác chiến Liên khu 1 Hà Nội để chuẩn bị kháng chiến.

Khi Toàn quốc kháng chiến bắt đầu, các đơn vị Tiểu đoàn 101 tập trung chiến đấu bảo vệ một số vị trí quan trọng như Dinh Chủ tịch, Bắc Bộ Phủ, Sở Bưu điện, Nhà hát lớn, Tòa Thị chính thành phố… sau đó rút vào khu cố thủ của Liên khu 1 và được phân tán làm nòng cốt thành lập Trung đoàn Thủ đô tháng 1-1947. Mặc dù không được các sách sử sau này nhắc đến, lý lịch Đảng của ông Nguyễn Văn Triệu cho biết ở thời điểm này ông giữ chức vụ trung đoàn phó Trung đoàn Thủ đô. Theo tư liệu của các CCB Tiểu đoàn 101 thì có lẽ ông Nguyễn Văn Triệu (cùng với Chính trị viên Tiểu đoàn 101 cũ Bạch Thành Phong) được chỉ định rút ra ngoài khoảng cuối tháng 1-1947 (sau Tết Nguyên đán) để nhận công tác khác.

Trong giai đoạn sau của KCCP, ông Nguyễn Văn Triệu lần lượt làm Tham mưu phó Chiến khu II (1948), Trưởng phòng Dân quân Liên khu III, Hiệu trưởng Trường Quân chính Liên khu III (1949). Trong KCCM ông chủ yếu công tác trong ngành hậu cần, làm Chủ nhiệm Hậu cần BTL 500 (tức BTL tiền phương Tổng cục Hậu cần) (1967), Cục trưởng Hậu cần Đoàn 559 (1969), Cục trưởng Hậu cần Tổng cục Kỹ thuật (1974), Trưởng ban Thanh tra Tổng cục Kỹ thuật cho đến khi nghỉ hưu.

P/s: Đại tá Nguyễn Văn Triệu còn có 2 người anh em đồng hao đều từng cùng công tác ở Tiểu đoàn 101 và đều từng tham gia chiến đấu trong 60 ngày đêm là ông Ngô Vĩnh (Ngô Vĩnh Khánh), nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 101, trong 60 ngày đêm là Chính trị viên Tiểu đoàn 523; và ông Đặng Quý, nguyên Đại đội phó Đại đội 2 Tiểu đoàn 101, trong 60 ngày đêm là Đại đội trưởng Đại đội 15 Tiểu đoàn 212, sau này là Trung tá QĐNDVN và hy sinh năm 1972.

Sau khi đưa quân ra miền Bắc tháng 3-1946, quân đội Pháp đã tính tới các kịch bản phát động chiến tranh. Lưu trữ về cơ...
16/05/2026

Sau khi đưa quân ra miền Bắc tháng 3-1946, quân đội Pháp đã tính tới các kịch bản phát động chiến tranh. Lưu trữ về cơ quan tham mưu quân đội Pháp ở Đông Dương tại trung tâm lịch sử quốc phòng (SHD) tại Vincennes, Paris hiện lưu 2 tài liệu đóng dấu "tối mật" (très secret) được đánh số 4310/3-OP-S và 4311/3-OP-S do Phòng 3 (Tác chiến) của bộ tham mưu soạn thảo với tên gọi “Nghiên cứu sơ bộ về việc thực hiện một cuộc tấn công vũ lực tại Bắc Kỳ” (Étude préliminaire concernant l’execution d'un coup de force au Tonkin) dựa trên 2 lựa chọn: PA1 chiếm đóng Hà Nội và PA2 rút bỏ Hà Nội.

Mục tiêu chiến dịch đầu tiên của cả 2 phương án đều là dùng vũ lực để vô hiệu hóa chính phủ VNDCCH tại Hà Nội. PA1 chủ trương tập trung lực lượng giữ Hà Nội cùng với trục Hà Nội – Hải Phòng, củng cố đầu cầu vững chắc tại vùng duyên hải bao gồm cả Hải Phòng và Hòn G*i. PA2 chủ trương tiến công tiêu diệt hoặc làm thiệt hại nặng các đơn vị quân đội chủ yếu của VNDCCH ở đồng bằng Bắc Bộ, tập trung lực lượng giữ đầu cầu duyên hải (Hải Phòng và Hòn G*i). Mục tiêu lâu dài trong cả 2 trường hợp là dùng biện pháp bóp nghẹt kinh tế (đặc biệt là về than và gạo) để buộc người dân miền Bắc khuất phục (nguyên văn: de reduire a notre merci la population Tonkinoise par asphyxie economique du pays).

Chiến dịch được coi vừa là cuộc tấn công quân sự (coup de force) với yêu cầu chuẩn bị kỹ lưỡng, tiến hành đồng loạt và nhanh chóng, và cũng là cuộc đảo chính (coup d’etat) với nhấn mạnh “không có ngại ngần nào trong việc chuẩn bị hành động quân sự bằng bất cứ thủ đoạn ngoại giao có lợi” (nous n'aurons aucun scrupule a preparer l'action militaire par toute manoeuvre diplomatique profitable).

Để đảm bảo thành công, yêu cầu tiên quyết trong việc chuẩn bị chiến dịch là đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối trước thành phần dân sự ở Bắc Bộ (khoảng 5000 kiều dân ở Hà Nội và 150 kiều dân ở Nam Định), bao gồm cả những quan chức chính trị cao nhất, đồng thời giữ bí mật trước cả đơn vị quân sự 30 người đồn trú tại Vinh.

PA1 - chiếm đóng Hà Nội được chia thành 2 giai đoạn chuẩn bị và tác chiến. PA2 phức tạp hơn, được chia thành 5 giai đoạn. Đối với cả 2 phương án, trong giai đoạn chuẩn bị sẽ bí mật tập trung các phương tiện vận tải tới Lạng Sơn, Nam Định để cơ giới hóa toàn bộ các đơn vị đồn trú ở đây, sẵn sàng cho việc rút quân và sơ tán kiều dân Pháp. Giai đoạn chuẩn bị của PA1 bao gồm đưa thêm bộ binh và thiết giáp lên Hải Phòng để tăng cường lực lượng dưới vỏ bọc thay quân. Đối với PA2 trong giai đoạn này sẽ tranh thủ di chuyển và tổ chức lại căn cứ không quân từ Gia Lâm về Hải Phòng, củng cố phòng thủ Hải Phòng, sơ tán đơn vị đồn trú Vinh bằng máy bay. Các kho dự trữ ở Hà Nội, Lạng Sơn, Nam Định được xác định sẽ phải bỏ lại không thể mang theo và vì vậy được yêu cầu tính toán để ngừng tiếp tế vào thời điểm thích hợp nhằm giảm thiểu thiệt hại.

Giai đoạn 2 - tấn công nhìn chung là tương đồng, sẽ bắt đầu bằng khởi động tấn công đồng loạt tại các đô thị có quân Pháp đồn trú. Trong đó tại Hà Nội lúc 00h00 Ngày J sẽ thực hiện đảo chính, bắt giữ các yếu nhân của VNDCCH, tập trung toàn bộ lực lượng đánh chiếm thành phố với mục tiêu bảo vệ kiều dân Pháp, trục xuất người Việt ra khỏi khu phố Tây, chiếm giữ các cửa ngõ giao thông phía tây và phía nam, đồng thời tiêu diệt các lực lượng vũ trang Việt Nam trong và quanh khu vực Hà Nội. Tại các đô thị khác như Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định, Hòn G*i, Bắc Ninh và Phủ Lạng Thương cũng thực hiện đánh chiếm thành phố và nắm quyền kiểm soát các đầu mối giao thông quan trọng. Cả Hà Nội và Hải Phòng đều được xác định phải thẳng tay đánh chiếm bằng bạo lực (nguyên văn: conquete brutale de la ville) do tầm quan trọng của 2 đô thị này.

Song song với quá trình trên, các đơn vị đồn trú Lạng Sơn sẽ tổ chức rút về Bắc Ninh, quân đồn trú Nam Định rút về Phủ Lý bằng đường bộ sau khi sơ tán kiều dân về Hải Phòng bằng đường sông-biển. Lực lượng đóng ở duyên hải cũng rút từ Tiên Yên về giữ Cẩm Phả.

Hành động tiếp theo (là bước 2 của Giai đoạn 2 trong PA1 và là Giai đoạn 3 trong PA2) là tiến hành các cuộc đột kích vào hậu phương của VNDCCH.

Cánh quân thứ nhất và là mũi chủ yếu gồm quân đồn trú Hà Nội xuất phát lúc 06h00 Ngày J sẽ hội quân với quân đồn trú Nam Định ở Phủ Lý, sau đó lúc 10h00 Ngày J chuyển sang tiến đánh vào khu vực Tông - Sơn Tây, kết thúc và quay về Hà Nội lúc 19h00 Ngày J.

Cánh quân thứ hai gồm quân đồn trú Lạng Sơn và Phủ Lạng Thương rút về được tăng cường một bộ phận từ Hà Nội, sau khi hội quân ở Bắc Ninh sẽ từ Bắc Ninh hoặc Gia Lâm đánh lên Việt Trì – Phú Thọ, cũng kết thúc và quay trở về Bắc Ninh lúc 19h00 Ngày J.

Trong khi đó không quân được huy động để đánh phá Hòa Bình.

Đối với PA1, trong ngày J và J+1 sẽ lần lượt tổ chức thêm các cánh quân từ Hà Nội và Hải Phòng đi tăng cường cho Hải Dương, phối hợp giải tỏa và kiểm soát QL5 Hà Nội – Hải Phòng. Duy trì kiểm soát trục Hà Nội – Hải Phòng từ Ngày J+2.

Đối với PA2, sau khi các mũi đột kích Tông - Sơn Tây và Việt Trì – Phú Thọ rút về (kết thúc Giai đoạn 3) sẽ thực hiện ngay Giai đoạn 4: tiến hành sơ tán kiều dân cùng các bộ phận hành chính, hậu cần ở Hà Nội bằng đường bộ và đường sắt về Hải Phòng trong thời gian ước tính khoảng 5 ngày. Sau khi di tản xong dân thường, bắt đầu từ Ngày J+6, lực lượng quân sự được rút về tập trung ở khu vực Hải Phòng: cánh quân đánh Tông - Sơn Tây từ Hà Nội sẽ rút theo QL5, cánh quân đánh Việt Trì – Phú Thọ rút bằng QL18 theo lộ trình Bắc Ninh – Phả Lại – Đông Triều – Quảng Yên. Trong Giai đoạn 5, quân Pháp tập trung củng cố vùng kiểm soát từ Kiến An đến Cẩm Phả cho các hành động tiếp theo.

Các tư liệu Việt Nam sau này thường viết rằng quân Pháp dự tính đánh chiếm Hà Nội trong 24 tiếng, tuy nhiên những bản kế hoạch này cho thấy họ còn tham vọng hơn thế nhiều! Dự kiến của bộ tham mưu Pháp là chỉ mất tối đa là 6 tiếng (00h00 đến 06h00 Ngày J) để hoàn thành kiểm soát toàn bộ Hà Nội trước khi sang ngay bước tiếp theo là xuất phát đi Phủ Lý hội quân rồi sau đó đánh lên Sơn Tây và quay về Hà Nội (tất cả chỉ diễn ra trong 1 ngày!).

Thực tế đã diễn ra hoàn toàn trái ngược với dự tính của họ. Quân Pháp ở Hà Nội đã phải mất đến 5 ngày (19-12 đến 23-12-1946) để tái chiếm khu phố Tây. Các cửa ngõ giao thông chính phía tây và phía nam bị chiếm vào ngày 25-1-1947. Đến ngày 18-2-1947 quân Pháp mới kiểm soát được 100% nội thành và phải đến ngày 2-3-1947 mới tổ chức được cuộc đột kích đầu tiên ra Hà Đông. Cuộc hội quân với lực lượng đồn trú Nam Định và đánh chiếm thành phố được thực hiện ngày 11-3-1947. Đến tận tháng 7-1947 quân Pháp mới đến được cầu Phùng, cách Sơn Tây gần 20km. Ý đồ tốc chiến trong vài ngày của Pháp đã bị kéo giãn rất nhiều và cuối cùng trở thành sa lầy hoàn toàn.

Tối hôm ấy, đồng chí An Giao gọi tôi tới Ban chỉ huy, không mất thời giờ đồng chí An Giao mệnh lệnh luôn: “Đêm nay đồng ...
14/05/2026

Tối hôm ấy, đồng chí An Giao gọi tôi tới Ban chỉ huy, không mất thời giờ đồng chí An Giao mệnh lệnh luôn: “Đêm nay đồng chí cùng đi với một trung đội thuộc đại đội Văn Hán. Đồng chí có nhiệm vụ cùng với đơn vị này đánh vào quán cơm Hoả Xa. ở đấy chúng yểm một chiếc Hap-tờ-rắc. Hoả lực trên chiếc Hap-tờ-rắc này gây cho chúng ta nhiều thương vong khi các đơn vị của tiểu đoàn đánh vào nhà dầu Shell”. Tôi chỉ là một thư ký tác chiến của tiểu đoàn, kiêm luôn chức quản lý quân giới, vì vốn biết ít nhiều về máy móc, lại lái xe ô tô thành thạo. Nghe đồng chí tiểu đoàn trưởng nói xong, tôi nghĩ bụng - lái ô tô là một việc, đánh xe lại là một việc - hai việc này thật khó nói là giống nhau. Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng tôi chỉ hỏi tiểu đoàn trưởng thêm về nhiệm vụ cụ thể của mình.

Từ Ô Chợ Dừa chúng tôi xuất kích vượt qua nhà máy nước tại đường Ngô Sĩ Liên bây giờ, tiến vào đề pô xe lửa, chỉ huy mũi tấn công này là trung đội trưởng Triệu. Chúng tôi vốn thân quen nhau. Từ lúc tiến vào tiếp cận mục tiêu, Triệu luôn đi sát bên tôi. Rõ ràng cậu ta cố ý bảo vệ tôi, người sẽ giúp Triệu và đơn vị nhổ cái g*i tại quán cơm xế nhà ga. Chúng tôi bò sát mục tiêu, Triệu bất thần hô xung phong, cả trung đội bật lên ném lựu đạn và công kênh nhau nhảy vào vị trí địch, bị đòn bất ngờ, địch không kịp chống cự. Thực ra chúng tôi cũng không rõ có thật ở đây chúng bố trí một tiểu đội hay không? Điều này tưởng là vô lý, lẽ nào tấn công một vị trí đối phương lại không biết ở đấy có bao nhiêu người? Nhưng thực ra lúc ấy không có điều kiện để điều tra kỹ càng đầy đủ. Mục tiêu của chúng tôi là phải diệt bằng được chiếc Hap-tờ-rắc. Trong ánh đạn lửa, chiếc Hap-tờ-rắc lù lù ngay trước mặt, Triệu vỗ vào vai tôi: “Lên đi! Phận sự của cậu đấy”, không đợi giục đến lần thứ hai, tôi đã bám vào thành xe. Tên lái xe đã chết gục trước tay lái, tôi đẩy xác chết bật ra ngoài. Lúc này Triệu cũng đã có mặt trên xe. Hai đứa chúng tôi chia nhau, tôi lái chiếc Hap-tờ-rắc và Triệu dùng khẩu 12 ly 7 bắn vào các mục tiêu. Tôi cài số rú máy cho chiếc Hap-tờ-rắc xô đổ cổng ra vào, vòng sang phía nhà dầu Shell rồi hướng thẳng về phía nhà ga, Triệu trút đạn vào nhà chè Phú Xuân.

Đời tôi đã lái nhiều loại xe, xe du lịch đủ loại: Pho, Rơ-nô, Pơ-gi-ô, xe tải của Pháp, của Nhật trên nhiều ngả đường, nhưng chưa bao giờ tôi sung sướng sảng khoái như ngồi sau vô-lăng chiếc Hap-tờ-rắc này. Bọn địch ở nhà ga, ở nhà chè Phú Xuân hoảng hốt trước cú đánh bất ngờ, nên không kịp sử dụng súng cối, chỉ bắn chiếu lệ bằng những loạt trung liên. Đứng sau khẩu trọng liên, Triệu hô: “thôi về!”. Tôi không thể lái xe vượt qua Khâm Thiên vì ở đây có hai ụ cản đường. Triệu nhảy khỏi xe, hô anh em khênh các hòm đạn. Tôi loay hoay tìm cách tháo khẩu 12 ly 7, nhưng không tài nào tháo được. Đành phải phá nó thôi. Tôi hậm hực, mang tiếng là quản lý quân giới mà chịu, không có cách nào vác được khẩu súng chiến lợi phẩm này về. Để bớt sự giận dữ bất lực của mình, tôi quay súng về phía nhà ga, bóp cò. Trong băng đạn của khẩu súng này, cứ bốn viên lại có một viên đạn lửa. Nhìn những viên đạn lửa thun thút xé bóng tối bày về phía nhà ga, tôi bớt hậm hực. Chúng tôi gài lựu đạn vào khẩu 12 ly 7, chọc thủng xăng trên xe cho xăng chảy lênh láng, rồi ném lựu đạn kết liễu chiếc Hap-tờ-rắc đã từng cản trở không ít những lần chúng tôi tiến đánh nhà dầu Shell, lửa chùm lên khối sắt hung hãn ấy, chùm lên khẩu 12 ly 7 mà tôi không biết tháo khỏi cột chống, đành phải phá nó bằng ngọn lửa nóng ran. Tất cả chỉ có thế, lái xe địch, lấy súng địch bắn địch thì có, nhưng đâu phải cướp được khẩu trọng liên gắn trên chiếc xe ấy.

Cả Mẫn và Quốc Đương cười như an ủi tôi: làm được một cú như thế cũng khoái rồi, chúng ta đâu có trọng liên 12 ly 7 để biết tháo nó khỏi bệ bắn.

Mẫn giới thiệu với tôi về người phụ trách Trung đội 2, trước khi tôi xuống đơn vị ... “Anh chàng phụ trách trung đội này vốn là một tay nhà báo. Tuy chưa học qua một lớp quân sự nào, nhưng chiến đấu rất quả cảm, được anh em tin phục quý mến. Cậu ấy vốn là một chính trị viên trung đội, tuy ngày nhập ngũ chỉ sau đêm nổ súng có mười mấy tiếng đồng hồ. Trung đội trưởng trung đội này bị thương cậu ấy lên thay, đánh nhau với địch suốt từ Ô Cầu Dền ra đến đây. Theo mình làm trung đội trưởng bên cạnh một chính trị viên như thế cậu hoàn toàn yên tâm. Công việc chắc chắn cũng sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều!”. Đại đội trưởng nói thế, nhưng khi gặp Từ Thức nhận bàn giao, tôi không khỏi ngạc nhiên. Quân số của trung đội lên tới 91 người. Một tiểu đội có tới 12 Vệ quốc đoàn và 6 tự vệ Thành. Trung đội bộ gồm đủ cứu thương, cấp dưỡng, quân báo và cả thư ký quân khí. Từ Thức tiếp tôi một cách rất vui vẻ. Đối với anh làm trung đội trưởng hay làm chính trị viên không phải là điều đáng quan tâm. Nghe anh nói, tôi có cảm giác anh sẵn sàng làm một đội viên với khẩu Sì-ten anh đeo trên vai. Miễn là đánh được Tây. Thành viên của trung đội gồm đủ Vệ Quốc đoàn, Tự vệ, lính O.N.S. Thành phần xã hội của những người này lại càng đa dạng, phần đông là học sinh, nhưng có cả những tay anh chị lò lợn.

Từ Thức và tôi chưa kịp chấn chỉnh lại đơn vị, thì Tây đã tiến đánh Nam Dư Thượng nơi chúng tôi đóng quân. Theo đê sông Hồng chúng đưa quân chiếm chỗ cao, để từ đấy đánh xuống làng. Trận này Từ Thức đã có những quyết định khá táo bạo. Địch kéo vào làng vấp ngay tiểu đội do đồng chí Trang - trung đội phó mới được cử về trung đội, “tiếp đón”. Theo lệnh, các anh em đều chờ địch cách 30 thước mới nổ súng. Có thể nói, địch đã đứng phơi ra giữa ruộng hứng đạn của chúng tôi. Nhưng do có đại liên và súng cối từ các xe cơ giới trên mặt đê bắn yểm trợ, nên chúng thoát được vào một ngõ làng. Tôi nhìn lên mặt đê, nhìn những chiếc Hap-tờ-rắc vừa tức, vừa vẫn không sao dứt nổi câu hỏi đã ám ảnh tôi: trọng liên 12 ly 7 được gắn trên những chiếc xe kia bằng cách nào? . Phải gần 4 năm sau, câu hỏi này mới được trả lời; không phải trong một lớp học quân sự, không phải trong sách vở, câu trả lời đã được giải đáp ngay trên chiến trường.

Trong chiến dịch Quang Trung, tiểu đoàn tôi phục kích địch tại phố Cà. Xe cơ giới của chúng từ thị xã Hà Nam tiến xuống, rơi vào trận địa phục kích. Bằng lựu đạn và hoả lực của các tiểu liên, trung liên, chúng tôi đã ghìm cổ địch xuống mặt đường. Một chiếc Hap-tờ-rắc đứng lại như chiếc Hap-tờ-rắc năm nào đứng sững trước quán cơm nhà ga Hà Nội. Tôi lập tức nhảy lên xe, cả tên lái xe và tên xạ thủ đã lìa đời. Cái máu mê ham thích lái xe của tôi bật dậy. Tôi dấn ga cho chiếc xe đã nằm im lăn xích, và hô cậu đội viên theo tôi cùng nhảy lên. Đồng chí đội viên ấy theo lệnh của tôi đã quạt 12 ly 7 vào những chiếc xe cóc đang cố thoát khỏi lưới đạn bổ vây từ cả hai bên sườn. Tôi sẽ còn mải miết với cuộc rượt đuổi này nếu không chợt nhớ tới nhiệm vụ của mình. Dừng xe lại, tôi nhảy lên phía sau để một lần nữa tìm hiểu khẩu 12 ly 7 được đặt lên thành xe bằng cách nào. Nhờ ban ngày, tôi nhận ra ngay hai cái lẫy kẹp khẩu trọng liên. Chỉ cần nhấc hai cái lẫy này là lấy được khẩu súng ra khỏi chiếc chân trống. Lấy được, cướp được trọng liên, lại phá được xe địch, tiêu diệt khá nhiều bộ binh của chúng, tôi vẫn bị cấp trên phê bình: “Từ một tiểu đoàn phó, đồng chí đã tự hạ mình là một lái xe”. Lời phê bình không thể bào chữa, nhưng tôi không lấy thế làm chua xót. Dù sao tôi cũng đã giải đáp được câu hỏi từ những ngày ở mặt trận phía Nam Hà Nội.
-----------------------------
Hồi ức ông Nguyễn Vũ Giáp, nguyên quân khí viên Tiểu đoàn 523 Vệ quốc đoàn, Liên khu 3 Hà Nội.

Một khu phố Hà Nội giai đoạn tháng 12-1946.
13/05/2026

Một khu phố Hà Nội giai đoạn tháng 12-1946.

Address

Hanoi
Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hà Nội 1946 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hà Nội 1946:

Share