Hà Nội 1946

Website Contact the museum

Hà Nội 1946 Hà Nội 1946 - Quyết tử để Tổ quốc Quyết sinh
(1)

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-202619-10-1946: Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất - Chiến khu XI (Hà Nội) thành ...
19/10/2026

80 NĂM TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN 1946-2026

19-10-1946: Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất - Chiến khu XI (Hà Nội) thành lập

Trước nguy cơ chiến tranh Việt-Pháp đã cận kề, ngày 19-10-1946 Thường vụ Trung ương ĐCS Đông Dương dưới sự chủ trì của Tổng bí thư Trường Chinh tiến hành Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất để đánh giá tình hình và chuẩn bị đường lối kháng chiến.

Hội nghị đã quyết định phân chia lại chiến trường trên toàn quốc thành 12 chiến khu (I đến XII), trong đó Thủ đô Hà Nội được tổ chức thành Chiến khu XI.

Bộ chỉ huy Chiến khu XI gồm Khu trưởng Vương Thừa Vũ, Chính trị ủy viên (chính ủy) Trần Độ, Tham mưu trưởng Nguyễn Tấn Dương, Tham mưu chủ nhiệm (tham mưu phó) Hoàng Văn Khánh và Chính trị chủ nhiệm (phó chính ủy) Trương Công Cẩn. Khu trưởng và chính ủy cũng giữ vai trò Phó chủ tịch và Ủy viên trong Ủy ban Bảo vệ Hà Nội - về lý thuyết là cơ quan lãnh đạo thống nhất hoạt động kháng chiến của Hà Nội do Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc Bộ Nguyễn Văn Trân làm Chủ tịch.

Lực lượng bộ đội chính quy nằm dưới sự chỉ huy của Chiến khu XI gồm 05 tiểu đoàn bộ binh (101, 212, 523, 77, 145), 01 đại đội gồm 04 trung đội pháo binh (Yên Lãng, Xuân Tảo, Xuân Canh, Đào Xuyên) và 01 đại đội cảnh vệ. Tổng quân số 2515 người, trang bị 1515 súng bộ binh (chủ yếu là súng trường), 07 pháo 75mm, 01 pháo 37mm.

Kể từ tháng 11-1946, Bộ Quốc phòng - Tổng chỉ huy được giao chỉ huy thống nhất các lực lượng vũ trang - gồm cả bộ đội và dân quân tự vệ toàn quốc. Kể từ thời điểm này, Bộ chỉ huy Chiến khu XI cũng phụ trách chung cả các lực lượng vũ trang địa phương khác trên địa bàn nội ngoại thành như Tự vệ xung phong, Công an xung phong, Tự vệ xí nghiệp, Tự vệ Thành (nội thành) và Dân quân ngoại thành với tổng quân số khoảng 2 vạn người.

Sau khi Toàn quốc kháng chiến bắt đầu, Chiến khu XI được sáp nhập vào Chiến khu II. Hà Nội cùng 2 tỉnh Hà Đông, Sơn Tây trở thành mặt trận tiền phương của Chiến khu II do Chỉ huy trưởng Vương Thừa Vũ (Khu phó Chiến khu II) và Chính trị ủy viên Đỗ Đức Kiên phụ trách, tiếp tục cuộc chiến đấu 60 ngày đêm và trải qua nhiều lần tái cơ cấu để trở thành Bộ tư lệnh Thủ đô ngày nay.

Ngày 19-10-1946 sau này được lấy làm ngày truyền thống Lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội. Với thành tích trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội đã được phong tặng 04 danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVTND vào các năm 1978, 2002 (cho LLVT Tỉnh Hà Tây), 2005 và 2026, 01 Huân chương Sao Vàng (2011) và 02 Huân chương Hồ Chí Minh (1984, 2002)...

(Ảnh minh họa)

Một khu phố Hà Nội sau khi chiến sự 60 ngày đêm 1946 kết thúc.
16/10/2026

Một khu phố Hà Nội sau khi chiến sự 60 ngày đêm 1946 kết thúc.

Báo cáo ngày 14-5-1946 do Tiểu đội trưởng Hồng Hải gửi cho chỉ huy Tiểu đoàn 1 (tức Tiểu đoàn 101) Vệ quốc đoàn về tình ...
14/10/2026

Báo cáo ngày 14-5-1946 do Tiểu đội trưởng Hồng Hải gửi cho chỉ huy Tiểu đoàn 1 (tức Tiểu đoàn 101) Vệ quốc đoàn về tình hình vũ khí của "Tiểu đội Đặc biệt". Báo cáo này nằm trong số tài liệu mà quân Pháp thu được sau trận Bắc Bộ Phủ và ngày nay được lưu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia hải ngoại Pháp (ANOM) tại Aix-en-Provence.

Báo cáo cho thấy tiểu đội này có ít nhất 17 tay súng - gấp rưỡi biên chế thông thường. Trang bị gồm 1 tiểu liên, 10 súng trường thuộc các phiên bản khác nhau của dòng Berthier và 6 súng khai hậu, đạn và lựu đạn khá đầy đủ. Ngoài ra phiên hiệu "Tiểu đội Đặc biệt" cộng với việc chỉ huy đơn vị gửi báo cáo thẳng cho tiểu đoàn mà không cần qua cấp trung gian nào cho thấy đây là 1 tiểu đội độc lập trực thuộc tiểu đoàn để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt nào đó. Khả năng cao là để canh gác 1 công sở quan trọng hoặc bảo vệ trực tiếp cho 1 lãnh tụ - có thể chính là bảo vệ nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở số 8 Lê Thái Tổ.

Hố chiến đấu cá nhân của lực lượng vũ trang Việt Nam trên đường phố Hà Nội trong giai đoạn 60 ngày đêm 19...
12/10/2026

Hố chiến đấu cá nhân của lực lượng vũ trang Việt Nam trên đường phố Hà Nội trong giai đoạn 60 ngày đêm 1946.

Chính trị viên tiểu đoàn Bạch Ngọc Liễn nhận hoa tặng của nhân dân Hà Nội trong "Ngày về" 10-10-1954.Năm 1946, Bạch Ngọc...
10/10/2026

Chính trị viên tiểu đoàn Bạch Ngọc Liễn nhận hoa tặng của nhân dân Hà Nội trong "Ngày về" 10-10-1954.

Năm 1946, Bạch Ngọc Liễn là chiến sĩ Trung đội Tô Hiệu của Đội Tự vệ xung phong (Tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu) chiến đấu ở khu vực ngã năm Cửa Nam khi Toàn quốc kháng chiến bắt đầu. Ông cùng đồng đội nhập vào Khu Đông Thành của Liên khu 1 và sau đó trở thành chính trị viên Trung đội 5, Tiểu đoàn 102 Đông Thành của Trung đoàn Thủ đô, bảo vệ phố Hàng Quạt, Lương Văn Can.

Ngày 9-2-1947, chính trị viên Bạch Ngọc Liễn và trung đội trưởng Tạ Doãn Địch được ghi công bắn rơi 1 máy bay Spitfire bằng súng bộ binh. Đây là chiến công độc nhất vô nhị của Trung đoàn Thủ đô trong 60 ngày đêm.

Bạch Ngọc Liễn sau này là Thiếu tướng QĐNDVN, từng giữ chức vụ Phó tư lệnh về chính trị, Quyền tư lệnh, Quyền chính ủy của Binh chủng Đặc công. Ông mất năm 2000.

NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1947)Hồ TrúcNguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dụcNguyên Chính trị viên...
09/10/2026

NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1947)

Hồ Trúc
Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục
Nguyên Chính trị viên Quận đội V, Bí thư Quận ủy V - Hà Nội
-----
Năm 1946, tôi ở nhờ gia đình một đồng chí ở phố Trịnh Hoài Đức và sinh hoạt ở chi bộ khu Thăng Long.

Những ngày đầu tháng 11 ở Hà Nội đã bàn tới việc có thể phải đánh nhau với Pháp. Sang tháng 12 (1946) thì việc chuẩn bị đã trở nên sôi động. Đồng bào đã bắt đầu rời Hà Nội, tản cư ra vùng quê. Tôi được giao tập hợp số anh em học sinh lớn chuẩn bị cho công tác tuyên truyền địch vận. Chúng tôi có một số tập trung ở một ngôi nhà ngõ Đội Cấn. Còn một số thì vẫn đi đi về về, không ở hẳn nơi tập trung. Anh em bắt đầu tập huấn luyện quân sự và chuẩn bị các phương tiện cho công tác sẽ nhận khi xảy ra cuộc kháng chiến. Cũng có kế hoạch mỗi người dự trữ một ít lương khô dùng cho 2, 3 ngày đầu kháng chiến, nhưng rồi cứ cạn dần, đến hôm 19-12-1946 thì coi như chẳng còn gì.

Đêm hôm ấy (tức đêm 19-12-1946) đã được báo trước, anh em tề tựu đủ mặt, chỉ có vài người không có liên lạc là vắng. Tuy biết trước, nhưng lúc tắt đèn, ai nấy vô cùng hồi hộp và phát súng ở Láng đầu tiên nổ đã bay qua đầu chúng tôi mà rót vào Thành. Tiếng nổ vang rền và ai nấy đều phấn khởi vì là súng của ta. Ta đã dùng đại bác để đánh địch bất ngờ. Phút bỡ ngỡ lúc đầu tan dần khi thấy địch không phản pháo. Thế là đổ ra đường, ồn ào gặp gỡ nhau, vác loa đi tuyên truyền trong Tiểu khu, thoả lòng tức tối bọn lính Pháp lộng hành bấy lâu, tự hào ta có súng lớn bắn vào đầu chúng.

Chưa làm được gì, thì khoảng 10, 11 giờ đã thấy các bà các chị gánh cơm nóng, đậu kho đi khao quân. Xem ra nhiều người tin tưởng hồ hởi, có thể quân Pháp bị cú bất ngờ, khéo mà quị sớm, vì người ta nhớ tới đêm 9-3 ở Hà Nội (đêm 9-3-1945 quân Nhật đảo chính quân Pháp). Nhưng rồi tiếng súng lớn súng nhỏ kéo dài mãi đến sáng, có thể máy bay địch sẽ bắn phá và lo cho pháo đài Láng. Cuộc chiến đấu tiếp diễn, dòng người ra đi từ đêm tiếp tục, phố xá vắng dần. Tin tức truyền nhau nói về các trận đêm qua làm náo nức lòng người. Chúng tôi có được tin thắng lợi nào là phát thanh bằng loa kịp thời, cả những tin chưa chắc chắn như bom ba càng đánh xe tăng, một chiến sĩ bắn giỏi chỉ bắn 1 viên đạn hạ 2 lính Pháp, rồi có cả "Việt Nam mới" chiến đấu cùng ta v.v... cũng phát lên để cổ vũ nhau.

Đi đến đâu cũng thấy đục phá tường để luồn xuyên từ nhà nọ sang nhà kia. Đến những chỗ trống nhà, phải vượt qua thật nhanh. Qua các ngã ba ngã tư phải cúi thấp người chạy, đề phòng đạn địch bắn tỉa. Cứ thế anh em lên sát trận địa để tán phát truyền đơn hoặc gọi loa địch vận bằng tiếng Pháp. Cũng có nơi địch bắn vào chỗ loa ta vừa phát ra, nhưng không ai việc gì. Chúng tôi được chứng kiến cảnh các gia đình tản cư vội vã: chăn màn, quần áo, ấm chén, cả thư từ, ảnh vợ chồng mới cưới, tung toé khắp nơi.

Vài ngày sau, bắt đầu lan ra chuyện bắt Việt gian ở xa, ở gần. Nào "nó" có huy hiệu tam tài giấu kín; nào quần áo, khăn quàng có 3 mầu, rồi người ta xử lý tên này tên nọ. Đặc biệt là chuyện súng "tắc bọp" của bọn chỉ điểm lọt vào hậu phương ta, ra hiệu cho địch bắn tới. Cứ nghe tiếng "tắc bọp" là đổ xô đi hòng tìm, xì xào nghi kỵ, mất khá nhiều thì giờ.

Cái chết gây xúc động đầu tiên đến với chúng tôi là anh Vơn, một người lính tàu bay của Pháp, bắn rất giỏi, đã hạ được 4, 5 tên địch sau vài ngày chiến đấu. Nghe nói anh rất gan dạ, luôn dũng cảm đứng thẳng chỉ huy anh em. Xác anh được đưa về ngôi chùa gần Núi Bò. Anh em rất thương tiếc anh Vơn và đã mặc niệm anh tại chỗ. Một hôm, tôi từ Nhổn đạp xe về Tiểu khu, dọc đường thấy khiêng ra ngoài nhiều đồng chí bị thương máu me khắp mình, thì ra hôm ấy địch tấn công ra Tiểu khu Thăng Long. Ta đánh trả, nhưng vũ khí đạn dược thiếu, cơ bản là dùng lựu đạn. Nhưng lựu đạn thì quả nổ quá sớm, quả ném ra lăn long lóc không nổ, nên trận đó bị thương vong khá nhiều. Ta đã phải nghi binh, lấy ống bơ, nồi đất để doạ xe tăng. Tôi chạy cả ngày mới xin viện trợ được 70 viên đạn "mút" cũng không đủ dùng. Tuy vậy tinh thần anh em không hề sa sút, chẳng ai chịu rút lui.

Súng đạn thì như vậy, còn ăn uống thì ra sao, lúc này không nhớ lại hết được. Chỉ biết hàng ngày có quang gánh tiếp tế, cơm nhiều nhưng thức ăn rất thiếu. Chúng tôi đã phải "tiêu thổ những thứ mà gia đình tản cư để lại như cà, dưa, tương, mắm... Sau này cũng có bữa ăn thịt chó vì "chiến dịch diệt cẩu" để khỏi ảnh hưởng đến hành quân đêm của du kích. Còn lúc ấy, thậm chí quà ủy lạo chiến sĩ cũng toàn là bỏng ngô, một bữa xôi đậu đen ở ngã ba Cầu Giấy cũng được coi như một bữa tiệc ngon vô cùng.

Địch đánh lan rộng, phải chuyển máy in, hộp chữ ra xa. Dân công không huy động được, phải xin chỗ anh Phong Nhã mấy chục em ở Đội Hoàng Hùng đi khuân vác. Trời mưa, đường lầy, các em vất vả lắm mới chuyển hết về Tây Mỗ.

Hình ảnh các em ướt như chuột lột, vất vả đến gần tối mới ổn định. Thế mà làm xong nhiệm vụ, các em nhất định đốt đuốc trở về vị trí, không chịu ngủ lại đêm. Tinh thần các em thật là cao vô cùng. Tờ báo "Thép lửa" của chúng tôi phải đình bản và nhập vào báo Thủ đô. Nhưng nhà in do bác Bình, anh Sự, anh Long phụ trách sau vẫn đưa về Cự Đà in xong cuốn "Du kích Nga", phát không cho các đơn vị, rồi mới chuyển hẳn đi nơi khác.

Đầu tháng 2 năm 1947 thì có lệnh tập kết về Cự Đà, Khúc Thuỷ. Chính ở đây mới tập hợp nhau lại thành Quận V. Ở đây có Quận uỷ mới do anh Kỷ làm Bí thư, tôi được cử làm Chính trị viên Quận. Thời kỳ này đánh dấu việc xây dựng các Trung đội, đại đội du kích. Việc huấn luyện được triển khai, có anh Lam Sơn phụ trách, có mấy anh "Việt Nam mới" giúp sức. Cũng có lập cả đội nữ du kích do chị Kim Thoa phụ trách. Vì có ít súng, nên có anh em đã ở trong đội du kích mà chưa được sờ vào khẩu súng lục. Do đó có chuyện một du kích mân mê khẩu "côn bát", cướp cò làm chết một chị cứu thương (hình như tên là Lan) ở ngay nhà dân ở Khúc Thuỷ, làm bà con cũng run sợ lây. Công tác huấn luyện làm anh em mệt nhọc vì tập theo kiểu quân đội đế quốc. Lại còn phải học chính trị nữa. Chúng tôi có mang theo cuốn "Người chính trị viên trong quân đội" cứ cóp y nguyên để huấn luyện; kèm theo là các lời răn đe "bắn bỏ" vì thấy có một số hành vi lấy vải vóc, màn thờ của dân để làm khăn quàng và túi sách.

Cự Đà lúc đó chỉ xa Hà Nội có nửa giờ chim bay, nhưng tập trung rất đông người tản cư, quà bánh sầm uất, nhất là xung quanh khu đình làng. Rồi bên kia bờ sông còn mở hội hè 2, 3 ngày trống chiêng lu bù. Sở dĩ như vậy là vì các đường dẫn tới Cự Đà đã bị đào phá, ta chặn đánh úp địch hành quân, còn bản thân địch cũng chưa có tiếp viện để nống ra qua vòng đai.

Lúc này, ta đã có một cơ quan tiếp phẩm đàng hoàng, đã lấy thóc về xay, đã có người đi lĩnh thức ăn, gạo nước cho từng đơn vị. Tôi nhớ chuyện này vì có một hôm thấy đồng chí Ước hớt hơ hớt hải về xin người lên vận chuyển mắm muối tương cà gạo để chạy giặc sắp tiến quân đến gần. Tết năm ấy là một Tết khá rôm rả, có đủ bánh chưng, kẹo bánh của hậu phương ủng hộ.

Rồi có tin Trung đoàn Thủ đô ra khỏi Liên khu I vài ngày sau Tết. Địch như vậy là được rảnh tay ở phía sau lưng. Và chỉ nửa tháng sau, ngày 2-3-1947 chúng đã mở cuộc tấn công ra Hà Đông, đe doạ Cự Đà. Ta để quân đóng dọc sông Nhuệ, còn bản doanh rút Xuống Bối Khê, rồi về vùng Bồ Nâu, Tri Lễ. Ta vẫn từ Cự Đà xuất quân vào quấy rối ngoại ô nội thành và sân bay. Đấy là lý do địch hành quân nhiều phía đánh vào Cự Đà. Trận quyết liệt diễn ra vào ngày 27-3, khi địch ập từ Hà Đông, Mậu Lương, Đa Sĩ xuống Cự Đà. Để cản bước địch, 2 đồng chí Sự và Tự đã chiếm giữ ngôi nhà ở bên sông Nhuệ đánh lại địch từ sáng đến chiều ngày 27. Địch có súng to, súng nhỏ, có cả xe tăng thiết giáp đi theo, nhưng không dùng được vì địa bàn chung quanh ngôi nhà khó xoay trở. Chúng bắn phá từ xa rồi vào gần giáp ngôi nhà. Các đồng chí Sự và Tự sử dụng lựu đạn là chính, quyết ghìm chân chúng. Từ tầng dưới lên tầng trên, rồi lên hẳn tầng thượng. Địch không làm sao chiếm được ngôi nhà bèn chất rơm... đốt. Có lúc súng xì-ten của ta bắn được vài viên thì tắc, đồng chí Sự ức quá ứa nước mắt, phải dựa vào quả lựu đạn cuối cùng. Trời đã gần tối, địch không thắng được ta. Ta cũng đinh ninh sắp đến giờ phút hy sinh, hai anh đã ghi lại lời trối trăng quyết tử. Đúng lúc ấy thì địch rút lui sợ khi đêm đến ta tập trung bao vây chúng. Thắng lợi này được cả báo ta và báo địch đăng tin. Tiếng vang về ý nghĩa trận này cổ vũ tinh thần Quận V rất nhiều. Đến gần một năm sau, khi tôi là Trưởng ban Tuyên huấn Hà Nội lên họp Hội nghị Tuyên huấn ở Trung ương tại Đại Từ (1948) còn phải kể lể tỉ mỉ về trận này cho các đại biểu. Nó nổi lên tinh thần quyết tử của ta, ít thắng nhiều, gieo rắc niềm tin có thể thắng địch nếu gan dạ và thông minh.

Về nơi tập kết mới khoảng cuối tháng 3, lẻ tẻ có cha mẹ đem con ở tuổi thiếu niên xin cho theo kháng chiến, cũng có một ít người bắt được liên lạc với gia đình xin rút lui về hậu phương. Nói về các em thì phải nói đến công lao liên lạc của các em và cả việc lấy tin tức từ các em đem về. Tôi nhớ có một lần theo anh em lên quấy rối sân bay Bạch Mai. Từ căn cứ lên đến Cự Đà thì trời tối, trăng lưỡi liềm bị mây che lúc khuất lúc hiện. Chú bé 14 tuổi người miền Trung đã dẫn đường cho chúng tôi, chú thoăn thoắt qua các bờ ruộng đường làng đưa chúng tôi đến chỗ dấu thuyền. Chú chở đi chở về qua sông Nhuệ và luồn lau lách đi vào phía sân bay. Lúc trở về, tôi mệt quá không còn sức đi ra khỏi vùng tầm súng của địch, ngủ ngồi ngay bên một quán nhỏ. Trong khi đó chú liên lạc vẫn nhanh nhẹn đi vận động mua ăn cho anh em. Phải nói là trong cuộc chiến đấu, các em chuyển biến rất nhanh và nhiều em đã dũng cảm thông minh có khi hơn cả người lớn.

Thời kỳ đầu về Ước Lễ, Tri Lễ cũng là thời kỳ xả hơi. Dân tản cư về đây khá đông. Việc ăn xài lu bù, anh em ta sau những ngày gian khổ cũng bị cuốn vào môi trường đó, có đồng tiền nào cũng bị hút vào quà bánh, cà phê. Có đồng chí bán cả quần áo, xe đạp để khao lẫn nhau, chuyện tiếu lâm, chuyện tầm phào phát triển. Vào lúc đó có "Thư của Bác Hồ gửi các đồng chí Bắc Bộ và Trung Bộ". Quận uỷ tổ chức học tập, kết quả dẹp được các xu hướng tự do vô kỷ luật, được nhận thức về trường kỳ kháng chiến, về tư cách người chiến sĩ cách mạng, ổn định được tư tưởng, bắt đầu phát triển được nhiều đảng viên... Có lúc quan niệm còn ấu trĩ, đem cả súng xì-ten, lựu đạn chầy bày lên bàn thờ Tổ quốc đế làm lễ kết nạp Đảng. Buổi ra quân một đại đội mới cũng làm quá long trọng, động viên quá mức, có phần kích động, dẫn đến vài hôm sau trong một trận với địch đã thương vong gần một trung đội. Tính chất tiểu tư sản còn rất nặng nề trong chỉ đạo. Việc đánh Thạch Bích cũng chứng tỏ sự chỉ đạo không vững vàng ấy. Chỉ vì một đồng chí bị địch giết dã man, vì nhân dân các làng bên uất ức kêu ca lãnh đạo mà hai cấp uỷ Thanh Oai và Quận V đã chủ trương đánh vào làng Công giáo có số phản động ấy (đồn Thạch Bích). Hậu quả phải vài ba năm sau mới tạm giải quyết được.

Về Tri Lễ, Ước Lễ một thời gian, có chủ trưởng giảm biên chế, vì số người phải cáng đáng quá đông, không chịu nổi. Đây là bước khó khăn. Nhiều anh chị em đã gắn bó 3, 4 tháng rồi, công tác chiến đấu rất tốt. Công chức có, học sinh có, thương gia cũng có. Lại có cả thành phần trước vốn là lưu manh đã làm quân báo tình báo rất đắc lực. Thậm chí có cả chị em vốn là cô đầu nhà thổ, xung phong vào các đội cứu thương, rất tận tuỵ thương yêu anh em. Có trận bom, có nhiều thương vong, các chị nhặt từng mảnh ruột, từng bàn tay, vừa làm vừa khóc, tình nghĩa đồng đội rất sâu sắc. Nay cho ai về sản xuất, ai ở lại. Nhưng rồi cũng ổn thoả, an tâm, người về gia đình sản xuất, người bổ sung sang quân đội chính quy, người vào tình báo, quân báo, người hoà lẫn vào dân hồi cư để làm nhân mối hoạt động nội thành của ta. Những cuộc chia tay liên tiếp thật vô cùng xúc động. Một hôm xuống kiểm tra quân số một trung đội được báo cáo đã giảm biên. Anh em điểm danh đến số 22, bỗng có một chú bé lao ra, tay cầm cái quạt nan, điểm tiếp 23. Thì ra trung đội phải nói dối trên, dấu quân số, chia khẩu phân để nuôi em liên lạc. Còn em thì đinh ninh mình vẫn là chiến sĩ trong đơn vị. Có hôm phải tiếp riêng một chị trước là me Tây nay xin được vào thành làm nghề cũ cốt để làm việc cho ta. Hôm tiễn chị ra Ba La Bông Đỏ, chị khóc rất lâu, tiếc không ở lại được với anh chị em để chiến đấu công khai.

Sang tháng 6, trời bắt đầu nóng. Chúng tôi đang họp ở Quế Sơn, cách Bồ Nâu một cánh đồng thì có máy bay Dakota lượn quanh. Chúng tôi đề phòng bị ném bom, nên rút ra ngoài sân đình. Máy bay lượn lại, hạ tháp, cánh cửa bên mở ra, rồi bay thẳng đi. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dự đoán được tình hình. Và hôm sau, chúng đã nhảy dù xuống Bồ Nâu, Úc Lý. Tiếng súng bắn liên hồi, từng cột khói bắt đầu bốc lên. Quân ta bố trí ở Tri Lễ, đợi đánh địch tràn vào. Nhưng địch chỉ phá phách ở Bồ Nâu. Hôm sau chúng rút, ta đánh vuốt đuôi. Xem ra địch cũng không cố tình sục sạo nhiều. Một đơn vị tuyên truyền xung phong của ta nằm dưới hầm đình làng Bồ Nâu không bị phát hiện. Cán bộ ta trốn trong cột rơm cũng thoát, các tài liệu máy chữ cũng dấu kịp, ta không mất một người nào. Nhân dân cũng thiệt hại phần nào.

Xem ra, đó là một cuộc tập nhảy dù chuẩn bị cho Thu Đông đánh lên Việt Bắc là chính.

Sau trận này, ta mới cảnh giác hơn: bí mật từ việc dùng giấy vệ sinh đến sắp xếp ba lô, tập báo động, di chuyển ban đêm v.v...

Vào tháng 9-1947, Khu uỷ XI quyết định lập Thành ủy Hà Nội, cũng là lúc tôi thôi giữ chức Bí thư Quận ủy, được điều động lên Tuyên huấn Khu XI và sang đầu năm 1948 thì về làm Trưởng ban Tuyên huấn Hà Nội.

Ảnh: Ban liên lạc Bạn chiến đấu Liên khu 3 - Đống Đa - Quận V. Ông Hồ Trúc (tên thật Nguyễn Tài Uyên) là Phó ban ngồi giữa, bên trái là Trung tướng, GSTS Đỗ Trình (nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu 3 Hà Nội trong 60 ngày đêm 1946) - Trưởng ban, bên phải là Thiếu tướng Hoàng Dũng - Phó ban.

ĐÁNH ĐỊCH Ở HÀNG BỘT DƯỚICuối tháng 12-1946, 5 chiến sĩ tự vệ được trung đội giao nhiệm vụ trực chiến, gồm:1. Đồng ch...
07/10/2026

ĐÁNH ĐỊCH Ở HÀNG BỘT DƯỚI

Cuối tháng 12-1946, 5 chiến sĩ tự vệ được trung đội giao nhiệm vụ trực chiến, gồm:

1. Đồng chí Bùi Văn Nghĩa.

2. Đồng chí Nguyễn Út.

3. Đồng chí Nguyễn Văn Thêm.

4. Đồng chí Nguyễn Văn Nhân.

5. Đồng chí Hoàng Văn Tỵ.

Đồng chí Nghĩa và Út được giao mỗi người một quả lựu đạn Nhật, các đồng chí khác có dao và kiếm. Chúng tôi đóng chốt phía trên trụ sở tự vệ là đình Thịnh Hào cách khoảng 4 nhà. Nhà ngoài có một người đàn ông trạc ngoài 40 tuổi có một con chó bécgiê to để trông nhà, mặt phố nhìn vào, bên phải có cổng đi vào nhà trong, tầng dưới dành cho anh em tự vệ, khi cần phải trực gác, có để một số gươm, dáo, gậy gộc làm vũ khí. Bên trái căn phòng có cầu thang lên gác, bình thường anh em không qua lại đó. Giữa sân là một bể cá cảnh, có hòn non bộ. Đó là sơ đồ khái quát thời bấy giờ. Đứng ngoài mặt phố, lúc đó có thể quan sát rõ hai bên đường lên đến nhà thờ Hàng Bột, nhìn xuôi phía dưới cũng rất thoáng.

Khoảng 9 giờ sáng đã nghe thấy tiếng súng đạn nổ rền vang phía Hàng Bột trên, chúng tôi hội ý: nếu phải chiến đấu thì 3 đồng chí chỉ có gươm giáo và tay không, nên phân tán 2 đồng chí sang bên kia đường, qua ngõ Huy Văn để giảm bớt thương vong, đồng thời còn có người về báo tin được cho trung đội. Gần 10 giờ sáng thì phát hiện thấy địch từ phía nhà thờ men theo hai bên đường, đổ 2 cánh quân xuống, tôi đã cho 2 đồng chí Nhân và Tỵ sang đường. Hai đồng chí vừa chạy ra đến giữa đường thì bị liên thanh địch nổ, đồng chí Tỵ chạy được lên hè thì ngã gục, còn đồng chí Nhân gục ngay phía bên kia đường. Chúng còn phát hiện được nhóm chúng tôi nên quay liên thanh nổ rào rào tới, tôi cũng bị thương hai chỗ vào chân và sát ở ngực.

Còn 3 anh em dìu nhau qua cổng vào nhà trong, chủ nhà đã chứng kiến rất rõ tình thế nguy kịch của chúng tôi khi tuyên thệ quyết chiến: "Đã hết đường chạy và cũng không còn chạy kịp, nếu phải đối mặt với giặc mà không chống cự nổi thì sẽ nổ lựu đạn tự sát chứ nhất định không chịu để bị địch bắt".

Chủ nhà thật là người trọng nghĩa, biết sự sống và cái chết của anh em chí còn là gang tấc, đã tự nguyện chạy lên mở cửa nhà gác cho anh em lên bố trí chiến đấu. Chủ nhà đã trở về gian ngoài, anh em tổ 3 người đã nhanh chóng ổn định vị trí chiến đấu, trao đổi với nhau phải nổ 2 quả lựu đạn sao cho đạt hiệu quả tốt nhất, trường hợp nếu lựu đạn xịt hoặc địch quyết chiến xông lên thì dùng gươm giáo chiến đấu đến cùng: "Thà chết vinh còn hơn sống nhục".

Mọi việc chỉ có thể bàn ngắn gọn, thì đúng lúc nghe thấy tiếng rầm rầm ngoài cửa trước, bọn chúng đã đến, dùng báng súng đập phá cửa, nghe tiếng chó sủa, chúng càng đập khoẻ hơn, chỉ trong chốc lát cửa bị phá vỡ tung, chó béc giê lồng lộn sủa cắn, chúng nổ súng bắn chết ngay. Rồi chúng túm lấy chủ nhà đánh đập tàn nhẫn, tiếng kêu la, van xin lẫn tiếng quát hỏi Việt Minh... "tu ve" đâu? Không có tiếng trả lời, chúng đập phá vơ vét nhặt nhạnh rồi đẩy chủ nhà ra khỏi cửa, đưa về điểm tập trung.

Còn lại 4 tên. Có tiếng hô "entrez" (đi vào). Qua sân đến căn phòng tầng dưới 2 thằng vào lục soát, quăng vứt bừa bãi, không lấy được gì, chúng đi ra, vừa đi vừa nói: "Tu ve" vừa giơ gươm giáo cho bọn đứng ngoài trông thấy. Tiếng hô tiếp "à l étage" (lên gác). Phía trên chúng tôi quan sát chúng rất rõ, 4 thằng lăm lăm tay súng, 2 thằng vẫn đứng sau, 2 thằng từ trong phòng đi ra, chuẩn bị bước lên gác. Tên thứ nhất đã bước đến bậc thứ 3, thằng đi sau cũng vào đến bậc thì anh Út rút chốt, ném quả lựu đạn thứ nhất xuống. Trời ơi! Lúc này mỗi tích tắc là cả thời gian rất dài, mà vẫn còn chưa nổ, thì quả thứ hai của tôi phải rút chốt và chờ cho cháy xì xì... mới thả xuống, thì nổ ngay và liên tiếp quả số 1 cũng nổ. Thằng từ bậc trên đổ xuống, thằng đứng dưới cũng quị luôn, còn 2 thằng kia kêu "Oh Gr***de" (lựu đạn) rồi chúi xuống thành bể tránh đạn.

Trời đất! Ai đã một lần được chiêm ngưỡng cảnh trình diễn tuyệt tác này, hẳn thật vô cùng mỹ mãn. "Những người hùng của thế kỷ XX" to như con bò mộng được trang bị vũ khí đến tận răng, đã từng gây hấn, bắn phá, đốt nhà, cướp của, giết chóc đồng bào ta ở khắp nơi và hôm nay ngay tại đây, 2 thằng đang dãy dụa kêu la, máu me bê bết, còn 2 thằng núp sau bể cá đã hoàn hồn vội đứng dậy vào nâng thằng bị thương dìu lên đi khập khễnh và kéo lê thằng dãy dụa sền sệt theo cổng ra đường rút khỏi điểm chết, bỏ lại một khẩu súng trường và một quả lựu đạn cạnh bể.

Trông những người khổng lồ Tây lê dương mũi đỏ, thất trận dìu nhau, kéo nhau đi mà chúng tôi tiếc quá. Nếu còn có thêm 1 - 2 quả lựu đạn nữa thì chắc diệt gọn. Nhưng lại nghĩ ta đã hết, chẳng còn gì nữa, phải nhanh chân đi nhặt ngay khẩu súng và quả lựu đạn. Lợi dụng lúc thằng bị kéo lê chắn được mặt trong, anh Út đã theo chân chúng xuống lượm gọn chiến lợi phẩm, khi chúng còn chưa ra khỏi cổng mà không hề hay biết gì hết.

Sung sướng quá! Khi tay cầm nâng niu khẩu súng còn mới tinh, nạp đầy đạn, cả đạn lửa lẫn đạn nổ, còn quả lựu đạn thì đẹp và hiện đại hơn quả lựu đạn Nhật mà chúng tôi đã ném. Thế là từ tay không lại được trang bị vũ khí tối tân, vui mừng quá. Ba anh em ôm lấy nhau dàn dụa nước mắt.

Khi định thần lại, nghe rõ tiếng xì xồ của lê dương Pháp ở cả mặt phố lẫn phía sau nhà, thế là chúng tôi đã nằm giữa khu vực tấn công càn quét của chúng, nên phải nhanh chóng di chuyển sang địa điểm khác, đề phòng bị phản kích. Chúng tôi đứng cửa, xuống cầu thang, còn nhìn rõ 2 điểm nổ lựu đạn và máu chảy ướt cả sàn nhà. Chúng tôi luồn theo giao thông hào sang cách 3 nhà, từ trên gác nhà này quan sát rất rõ mặt phố, cố tìm xác hai đồng chí bị hy sinh, nhưng không còn trông thấy nữa, không biết là đã nhoài bò đi hay bị địch hót đi về điểm tập trung rồi. Đứng phía sau nhà, nhìn sang đình Thịnh Hào là trụ sở tự vệ phố thì không còn ai cả liền theo đường trong rút sang làng Thịnh Hào xuống cuối phố, đến tổ tiếp tế cứu thương (hiện là cơ quan giao thông) thì gặp Ban chỉ huy trung đội và một số anh em của các tiểu đội khác.

Mọi người đều cho rằng chúng tôi bị hy sinh cả không ngờ lại giành được thắng lợi oanh liệt trở về, đều vô cùng mừng rỡ, mọi người chiêm ngưỡng ngắm nghía chiến lợi phẩm, ca ngợi chiến công và cảm phục tinh thần chiến đấu quyết tử của tổ 3 người chúng tôi. Thay mặt Ban chỉ huy trung đội, đồng chí Nguyễn Văn Côn là Trung đội phó đã tiếp nhận chiến lợi phẩm là khẩu Re*****on và quả lựu đạn chày Mỹ, đồng chí đã khen ngợi anh em và hứa sẽ báo cáo lên trên để tuyên dương thành tích đặc biệt xuất sắc này.

Sau đó trung đội bố trí một số anh em đi tìm hai đồng chí Nhân và Tỵ và quan sát tình hình trận địa, được biết không tìm thấy cả 2 đồng chí lẫn chủ nhà chốt đâu cả. Còn quân địch cũng chỉ xuống được đến giữa phố - quãng vào làng Thịnh Hào thì thôi, vì biết có Việt Minh - Tuve - và chúng bị sát thương nên phải thu quân, rút lui, bỏ cuộc trận tấn công đánh phá ngày hôm đó.

===Hồi ức của ông Bùi Văn Nghĩa, chiến sĩ tự vệ phố Hàng Bột dưới (nay là đoạn Nguyễn Lương Bằng - Tây Sơn) thuộc Khu Văn Miếu, Liên khu 3 Hà Nội===

Ảnh: Một khu lao động trên phố Hàng Bột trong giai đoạn chiến sự 60 ngày đêm - PV Nguyễn Bá Khoản chụp.

Ngã tư Hàng Bông - Hàng G*i - Hàng Hòm - Hàng Trống sau ngày chiến sự 60 ngày đêm ở Hà Nội kết thúc. Ản...
03/10/2026

Ngã tư Hàng Bông - Hàng G*i - Hàng Hòm - Hàng Trống sau ngày chiến sự 60 ngày đêm ở Hà Nội kết thúc. Ảnh của Trần Văn Vẻ - Trần Đình Nhung, hướng chụp từ Hàng Trống nhìn về Hàng Hòm.

Có thể thấy dấu vết tàn phá trên phố Hàng Bông. Sau trận chiến đấu ngày 27-12-1946 thì Hàng Bông - Hàng G*i trở thành giới tuyến: quân Pháp chiếm bên lẻ, quân Việt Nam giữ bên chẵn. Trong những ngày cuối tháng 1-1947 quân Pháp lấn chiếm được đoạn số chẵn Hàng Bông (từ Đường Thành đến Hàng Hòm) và từ đây tiếp tục tấn công vào các trận địa của Tiểu đoàn 102 Đông Thành ở Hàng Hòm, Hàng Quạt, Hàng G*i, Hàng Thiếc...

Giải tỏa Phố Lê Lợi (*)Ngày 23 tháng 12... "Lên xe!" Chúng tôi xuất phát tiến về phía đường vành đai. Những người lính T...
01/10/2026

Giải tỏa Phố Lê Lợi (*)

Ngày 23 tháng 12... "Lên xe!" Chúng tôi xuất phát tiến về phía đường vành đai. Những người lính Trung đoàn Chad cẩn thận kiểm tra những khẩu súng máy; dây đạn đã được lắp vào khóa nòng.

Đại lộ Gia Long (*). Không một bóng người. Không một tiếng động ngoại trừ tiếng súng vọng về từ những trận đánh khác. Một chiếc halftrack thận trọng tiến lên rồi dừng lại trước một đoạn hào đáng ngờ. Không có mìn. Những người lính đang trong trạng thái cảnh giác cao độ vừa thở phào thì từ bốn phía đạn và lựu đạn đồng loạt nổ. Hỏa lực chuẩn xác của đối phương khiến vài người bị thương. "Xuống xe!" Nhanh như chớp, binh lính xông vào trong các ngôi nhà, lao vào những trận giáp lá cà ác liệt. Súng máy trên xe xả đạn dữ dội vào các xạ thủ đối phương. Tốc độ tiến quân rất chậm. Với lựu đạn và tiểu liên, chúng tôi tiến qua từng nhà một, men theo những lỗ thông tường mà đối phương đã bí mật đục vài ngày hoặc vài tuần trước cuộc tấn công ngày 19 tháng 12.

Chúng tôi tới ngã tư đầu tiên được phòng ngự bằng các lô cốt án ngữ lối vào những ngôi nhà góc phố, lỗ châu mai được đục trên tường nhà và cửa sổ các tầng được che chắn bằng bao cát.

Các xe halftrack bám theo mũi tiến công dọc phố; một người lính tiến lên thám thính ngôi nhà bên phải; một loạt đạn quật ngã anh ta sau vài bước. Anh ta không chịu buông vũ khí mà bắn trả lại: mặc dù chân trái đã bị tê liệt. Dưới làn hỏa lực khủng khiếp, một người lính bất chấp nguy hiểm lao đến cứu đồng đội trước cả khi có lệnh. Người này cũng bị trúng đạn nhưng vẫn dồn hết sức tàn kéo đồng đội đi được vài mét rồi cũng gục xuống. Cả tiểu đội lập tức xông lên trong cơn giận dữ không thể ngăn cản, vượt qua làn mưa đạn lao vào tấn công ngôi nhà. Những quả lựu đạn khói che cho những người bị thương và cản tầm nhìn đối phương. Lô cốt bị chiếm; khẩu pháo lựu phá toang một lỗ thủng, một đợt đột kích mạnh mẽ tràn vào ngôi nhà. Bên tôi có 9 người... Đối phương để lại 16 xác tại trận địa, 1 khẩu trung liên Nhật thu được bổ sung thêm hỏa lực cho chúng tôi.

Vượt lên trước tất cả mọi người, xuyên qua khói và bụi đất, viên đại úy tiến về phía lô cốt còn lại, anh ta đột nhập qua lỗ thủng mà khẩu pháo lựu vừa bắn toang. Lô cốt, ngôi nhà liền kề và ngã tư Lê Lợi đã thuộc về chúng tôi. Đối phương rút lui khi trời tối. Chúng tôi lập chốt tại ngã tư, xe halftrack vào vị trí phòng thủ, bộ binh trong các dãy nhà.

Đêm xuống, đối phương lấy lại tinh thần, cách chưa đầy 20 mét chúng tôi nghe thấy họ đang gia cố chiến lũy gần đó và chửi bới chúng tôi. Không ai có thể chợp mắt, tất cả đều thức trắng theo dõi từng động tĩnh. Một đêm dài bất tận.

Trời rạng dần, và trong ánh sáng lờ mờ đó, khẩu pháo lựu gầm lên hai phát. Trong màn khói của phát bắn thứ hai, chúng tôi xông vào công sự đã được đối phương củng cố trong đêm. Một người Nhật đang ra lệnh — rõ ràng cấp dưới không hiểu — vì anh ta có vẻ nổi nóng. Anh ta trốn thoát cùng với người của mình, những kẻ đã vứt bỏ vũ khí tháo chạy.

Cứ cách 5 mét đường phố lại bị tắc nghẽn bởi các chiến lũy và những thân cây bị đốn hạ. Chúng tôi phải làm nhiệm vụ của lính công binh. Nhưng đà tiến đã mở... Ngày mai, đúng ngày Lễ Giáng sinh, gã người Nhật lúc nãy sẽ bị tiêu diệt. Khi đó chúng tôi sẽ tiến ra đến ranh giới của thành phố.

==Trường thuật của 1 quân nhân thuộc Tiểu đoàn 4, Trung đoàn lâm thời vùng Chad (4/RMT - régiment de marche du Tchad)==

(*) Lê Lợi là tên cũ thời Pháp của đoạn phố Bà Triệu từ Nguyễn Du đến Đại Cồ Việt. Gia Long là tên cũ thời Pháp của đoạn phố Bà Triệu từ Bờ Hồ đến Nguyễn Du. Ngã tư Lê Lợi được nhắc đến trong bài là ngã tư Nguyễn Du - Bà Triệu.

Theo nhật ký tác chiến của Tiểu đoàn 4/RMT, trong ngày 23-12-1946 các đơn vị của tiểu đoàn này đóng ở phía bắc hồ Thiền Quang tiến hành càn quét về phía đông tới trục Bà Triệu, chiếm đóng ngã tư Nguyễn Du - Bà Triệu để chuẩn bị tiến xuống phía nam giải tỏa khu vực Vân Hồ. Tiểu đoàn 4/RMT mất 02 tử trận và 06 bị thương trong các hoạt động chiến đấu này.

Address

Hanoi
Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hà Nội 1946 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Museum

Send a message to Hà Nội 1946:

Shortcuts

Share