09/10/2026
NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1946-1947)
Hồ Trúc
Nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục
Nguyên Chính trị viên Quận đội V, Bí thư Quận ủy V - Hà Nội
-----
Năm 1946, tôi ở nhờ gia đình một đồng chí ở phố Trịnh Hoài Đức và sinh hoạt ở chi bộ khu Thăng Long.
Những ngày đầu tháng 11 ở Hà Nội đã bàn tới việc có thể phải đánh nhau với Pháp. Sang tháng 12 (1946) thì việc chuẩn bị đã trở nên sôi động. Đồng bào đã bắt đầu rời Hà Nội, tản cư ra vùng quê. Tôi được giao tập hợp số anh em học sinh lớn chuẩn bị cho công tác tuyên truyền địch vận. Chúng tôi có một số tập trung ở một ngôi nhà ngõ Đội Cấn. Còn một số thì vẫn đi đi về về, không ở hẳn nơi tập trung. Anh em bắt đầu tập huấn luyện quân sự và chuẩn bị các phương tiện cho công tác sẽ nhận khi xảy ra cuộc kháng chiến. Cũng có kế hoạch mỗi người dự trữ một ít lương khô dùng cho 2, 3 ngày đầu kháng chiến, nhưng rồi cứ cạn dần, đến hôm 19-12-1946 thì coi như chẳng còn gì.
Đêm hôm ấy (tức đêm 19-12-1946) đã được báo trước, anh em tề tựu đủ mặt, chỉ có vài người không có liên lạc là vắng. Tuy biết trước, nhưng lúc tắt đèn, ai nấy vô cùng hồi hộp và phát súng ở Láng đầu tiên nổ đã bay qua đầu chúng tôi mà rót vào Thành. Tiếng nổ vang rền và ai nấy đều phấn khởi vì là súng của ta. Ta đã dùng đại bác để đánh địch bất ngờ. Phút bỡ ngỡ lúc đầu tan dần khi thấy địch không phản pháo. Thế là đổ ra đường, ồn ào gặp gỡ nhau, vác loa đi tuyên truyền trong Tiểu khu, thoả lòng tức tối bọn lính Pháp lộng hành bấy lâu, tự hào ta có súng lớn bắn vào đầu chúng.
Chưa làm được gì, thì khoảng 10, 11 giờ đã thấy các bà các chị gánh cơm nóng, đậu kho đi khao quân. Xem ra nhiều người tin tưởng hồ hởi, có thể quân Pháp bị cú bất ngờ, khéo mà quị sớm, vì người ta nhớ tới đêm 9-3 ở Hà Nội (đêm 9-3-1945 quân Nhật đảo chính quân Pháp). Nhưng rồi tiếng súng lớn súng nhỏ kéo dài mãi đến sáng, có thể máy bay địch sẽ bắn phá và lo cho pháo đài Láng. Cuộc chiến đấu tiếp diễn, dòng người ra đi từ đêm tiếp tục, phố xá vắng dần. Tin tức truyền nhau nói về các trận đêm qua làm náo nức lòng người. Chúng tôi có được tin thắng lợi nào là phát thanh bằng loa kịp thời, cả những tin chưa chắc chắn như bom ba càng đánh xe tăng, một chiến sĩ bắn giỏi chỉ bắn 1 viên đạn hạ 2 lính Pháp, rồi có cả "Việt Nam mới" chiến đấu cùng ta v.v... cũng phát lên để cổ vũ nhau.
Đi đến đâu cũng thấy đục phá tường để luồn xuyên từ nhà nọ sang nhà kia. Đến những chỗ trống nhà, phải vượt qua thật nhanh. Qua các ngã ba ngã tư phải cúi thấp người chạy, đề phòng đạn địch bắn tỉa. Cứ thế anh em lên sát trận địa để tán phát truyền đơn hoặc gọi loa địch vận bằng tiếng Pháp. Cũng có nơi địch bắn vào chỗ loa ta vừa phát ra, nhưng không ai việc gì. Chúng tôi được chứng kiến cảnh các gia đình tản cư vội vã: chăn màn, quần áo, ấm chén, cả thư từ, ảnh vợ chồng mới cưới, tung toé khắp nơi.
Vài ngày sau, bắt đầu lan ra chuyện bắt Việt gian ở xa, ở gần. Nào "nó" có huy hiệu tam tài giấu kín; nào quần áo, khăn quàng có 3 mầu, rồi người ta xử lý tên này tên nọ. Đặc biệt là chuyện súng "tắc bọp" của bọn chỉ điểm lọt vào hậu phương ta, ra hiệu cho địch bắn tới. Cứ nghe tiếng "tắc bọp" là đổ xô đi hòng tìm, xì xào nghi kỵ, mất khá nhiều thì giờ.
Cái chết gây xúc động đầu tiên đến với chúng tôi là anh Vơn, một người lính tàu bay của Pháp, bắn rất giỏi, đã hạ được 4, 5 tên địch sau vài ngày chiến đấu. Nghe nói anh rất gan dạ, luôn dũng cảm đứng thẳng chỉ huy anh em. Xác anh được đưa về ngôi chùa gần Núi Bò. Anh em rất thương tiếc anh Vơn và đã mặc niệm anh tại chỗ. Một hôm, tôi từ Nhổn đạp xe về Tiểu khu, dọc đường thấy khiêng ra ngoài nhiều đồng chí bị thương máu me khắp mình, thì ra hôm ấy địch tấn công ra Tiểu khu Thăng Long. Ta đánh trả, nhưng vũ khí đạn dược thiếu, cơ bản là dùng lựu đạn. Nhưng lựu đạn thì quả nổ quá sớm, quả ném ra lăn long lóc không nổ, nên trận đó bị thương vong khá nhiều. Ta đã phải nghi binh, lấy ống bơ, nồi đất để doạ xe tăng. Tôi chạy cả ngày mới xin viện trợ được 70 viên đạn "mút" cũng không đủ dùng. Tuy vậy tinh thần anh em không hề sa sút, chẳng ai chịu rút lui.
Súng đạn thì như vậy, còn ăn uống thì ra sao, lúc này không nhớ lại hết được. Chỉ biết hàng ngày có quang gánh tiếp tế, cơm nhiều nhưng thức ăn rất thiếu. Chúng tôi đã phải "tiêu thổ những thứ mà gia đình tản cư để lại như cà, dưa, tương, mắm... Sau này cũng có bữa ăn thịt chó vì "chiến dịch diệt cẩu" để khỏi ảnh hưởng đến hành quân đêm của du kích. Còn lúc ấy, thậm chí quà ủy lạo chiến sĩ cũng toàn là bỏng ngô, một bữa xôi đậu đen ở ngã ba Cầu Giấy cũng được coi như một bữa tiệc ngon vô cùng.
Địch đánh lan rộng, phải chuyển máy in, hộp chữ ra xa. Dân công không huy động được, phải xin chỗ anh Phong Nhã mấy chục em ở Đội Hoàng Hùng đi khuân vác. Trời mưa, đường lầy, các em vất vả lắm mới chuyển hết về Tây Mỗ.
Hình ảnh các em ướt như chuột lột, vất vả đến gần tối mới ổn định. Thế mà làm xong nhiệm vụ, các em nhất định đốt đuốc trở về vị trí, không chịu ngủ lại đêm. Tinh thần các em thật là cao vô cùng. Tờ báo "Thép lửa" của chúng tôi phải đình bản và nhập vào báo Thủ đô. Nhưng nhà in do bác Bình, anh Sự, anh Long phụ trách sau vẫn đưa về Cự Đà in xong cuốn "Du kích Nga", phát không cho các đơn vị, rồi mới chuyển hẳn đi nơi khác.
Đầu tháng 2 năm 1947 thì có lệnh tập kết về Cự Đà, Khúc Thuỷ. Chính ở đây mới tập hợp nhau lại thành Quận V. Ở đây có Quận uỷ mới do anh Kỷ làm Bí thư, tôi được cử làm Chính trị viên Quận. Thời kỳ này đánh dấu việc xây dựng các Trung đội, đại đội du kích. Việc huấn luyện được triển khai, có anh Lam Sơn phụ trách, có mấy anh "Việt Nam mới" giúp sức. Cũng có lập cả đội nữ du kích do chị Kim Thoa phụ trách. Vì có ít súng, nên có anh em đã ở trong đội du kích mà chưa được sờ vào khẩu súng lục. Do đó có chuyện một du kích mân mê khẩu "côn bát", cướp cò làm chết một chị cứu thương (hình như tên là Lan) ở ngay nhà dân ở Khúc Thuỷ, làm bà con cũng run sợ lây. Công tác huấn luyện làm anh em mệt nhọc vì tập theo kiểu quân đội đế quốc. Lại còn phải học chính trị nữa. Chúng tôi có mang theo cuốn "Người chính trị viên trong quân đội" cứ cóp y nguyên để huấn luyện; kèm theo là các lời răn đe "bắn bỏ" vì thấy có một số hành vi lấy vải vóc, màn thờ của dân để làm khăn quàng và túi sách.
Cự Đà lúc đó chỉ xa Hà Nội có nửa giờ chim bay, nhưng tập trung rất đông người tản cư, quà bánh sầm uất, nhất là xung quanh khu đình làng. Rồi bên kia bờ sông còn mở hội hè 2, 3 ngày trống chiêng lu bù. Sở dĩ như vậy là vì các đường dẫn tới Cự Đà đã bị đào phá, ta chặn đánh úp địch hành quân, còn bản thân địch cũng chưa có tiếp viện để nống ra qua vòng đai.
Lúc này, ta đã có một cơ quan tiếp phẩm đàng hoàng, đã lấy thóc về xay, đã có người đi lĩnh thức ăn, gạo nước cho từng đơn vị. Tôi nhớ chuyện này vì có một hôm thấy đồng chí Ước hớt hơ hớt hải về xin người lên vận chuyển mắm muối tương cà gạo để chạy giặc sắp tiến quân đến gần. Tết năm ấy là một Tết khá rôm rả, có đủ bánh chưng, kẹo bánh của hậu phương ủng hộ.
Rồi có tin Trung đoàn Thủ đô ra khỏi Liên khu I vài ngày sau Tết. Địch như vậy là được rảnh tay ở phía sau lưng. Và chỉ nửa tháng sau, ngày 2-3-1947 chúng đã mở cuộc tấn công ra Hà Đông, đe doạ Cự Đà. Ta để quân đóng dọc sông Nhuệ, còn bản doanh rút Xuống Bối Khê, rồi về vùng Bồ Nâu, Tri Lễ. Ta vẫn từ Cự Đà xuất quân vào quấy rối ngoại ô nội thành và sân bay. Đấy là lý do địch hành quân nhiều phía đánh vào Cự Đà. Trận quyết liệt diễn ra vào ngày 27-3, khi địch ập từ Hà Đông, Mậu Lương, Đa Sĩ xuống Cự Đà. Để cản bước địch, 2 đồng chí Sự và Tự đã chiếm giữ ngôi nhà ở bên sông Nhuệ đánh lại địch từ sáng đến chiều ngày 27. Địch có súng to, súng nhỏ, có cả xe tăng thiết giáp đi theo, nhưng không dùng được vì địa bàn chung quanh ngôi nhà khó xoay trở. Chúng bắn phá từ xa rồi vào gần giáp ngôi nhà. Các đồng chí Sự và Tự sử dụng lựu đạn là chính, quyết ghìm chân chúng. Từ tầng dưới lên tầng trên, rồi lên hẳn tầng thượng. Địch không làm sao chiếm được ngôi nhà bèn chất rơm... đốt. Có lúc súng xì-ten của ta bắn được vài viên thì tắc, đồng chí Sự ức quá ứa nước mắt, phải dựa vào quả lựu đạn cuối cùng. Trời đã gần tối, địch không thắng được ta. Ta cũng đinh ninh sắp đến giờ phút hy sinh, hai anh đã ghi lại lời trối trăng quyết tử. Đúng lúc ấy thì địch rút lui sợ khi đêm đến ta tập trung bao vây chúng. Thắng lợi này được cả báo ta và báo địch đăng tin. Tiếng vang về ý nghĩa trận này cổ vũ tinh thần Quận V rất nhiều. Đến gần một năm sau, khi tôi là Trưởng ban Tuyên huấn Hà Nội lên họp Hội nghị Tuyên huấn ở Trung ương tại Đại Từ (1948) còn phải kể lể tỉ mỉ về trận này cho các đại biểu. Nó nổi lên tinh thần quyết tử của ta, ít thắng nhiều, gieo rắc niềm tin có thể thắng địch nếu gan dạ và thông minh.
Về nơi tập kết mới khoảng cuối tháng 3, lẻ tẻ có cha mẹ đem con ở tuổi thiếu niên xin cho theo kháng chiến, cũng có một ít người bắt được liên lạc với gia đình xin rút lui về hậu phương. Nói về các em thì phải nói đến công lao liên lạc của các em và cả việc lấy tin tức từ các em đem về. Tôi nhớ có một lần theo anh em lên quấy rối sân bay Bạch Mai. Từ căn cứ lên đến Cự Đà thì trời tối, trăng lưỡi liềm bị mây che lúc khuất lúc hiện. Chú bé 14 tuổi người miền Trung đã dẫn đường cho chúng tôi, chú thoăn thoắt qua các bờ ruộng đường làng đưa chúng tôi đến chỗ dấu thuyền. Chú chở đi chở về qua sông Nhuệ và luồn lau lách đi vào phía sân bay. Lúc trở về, tôi mệt quá không còn sức đi ra khỏi vùng tầm súng của địch, ngủ ngồi ngay bên một quán nhỏ. Trong khi đó chú liên lạc vẫn nhanh nhẹn đi vận động mua ăn cho anh em. Phải nói là trong cuộc chiến đấu, các em chuyển biến rất nhanh và nhiều em đã dũng cảm thông minh có khi hơn cả người lớn.
Thời kỳ đầu về Ước Lễ, Tri Lễ cũng là thời kỳ xả hơi. Dân tản cư về đây khá đông. Việc ăn xài lu bù, anh em ta sau những ngày gian khổ cũng bị cuốn vào môi trường đó, có đồng tiền nào cũng bị hút vào quà bánh, cà phê. Có đồng chí bán cả quần áo, xe đạp để khao lẫn nhau, chuyện tiếu lâm, chuyện tầm phào phát triển. Vào lúc đó có "Thư của Bác Hồ gửi các đồng chí Bắc Bộ và Trung Bộ". Quận uỷ tổ chức học tập, kết quả dẹp được các xu hướng tự do vô kỷ luật, được nhận thức về trường kỳ kháng chiến, về tư cách người chiến sĩ cách mạng, ổn định được tư tưởng, bắt đầu phát triển được nhiều đảng viên... Có lúc quan niệm còn ấu trĩ, đem cả súng xì-ten, lựu đạn chầy bày lên bàn thờ Tổ quốc đế làm lễ kết nạp Đảng. Buổi ra quân một đại đội mới cũng làm quá long trọng, động viên quá mức, có phần kích động, dẫn đến vài hôm sau trong một trận với địch đã thương vong gần một trung đội. Tính chất tiểu tư sản còn rất nặng nề trong chỉ đạo. Việc đánh Thạch Bích cũng chứng tỏ sự chỉ đạo không vững vàng ấy. Chỉ vì một đồng chí bị địch giết dã man, vì nhân dân các làng bên uất ức kêu ca lãnh đạo mà hai cấp uỷ Thanh Oai và Quận V đã chủ trương đánh vào làng Công giáo có số phản động ấy (đồn Thạch Bích). Hậu quả phải vài ba năm sau mới tạm giải quyết được.
Về Tri Lễ, Ước Lễ một thời gian, có chủ trưởng giảm biên chế, vì số người phải cáng đáng quá đông, không chịu nổi. Đây là bước khó khăn. Nhiều anh chị em đã gắn bó 3, 4 tháng rồi, công tác chiến đấu rất tốt. Công chức có, học sinh có, thương gia cũng có. Lại có cả thành phần trước vốn là lưu manh đã làm quân báo tình báo rất đắc lực. Thậm chí có cả chị em vốn là cô đầu nhà thổ, xung phong vào các đội cứu thương, rất tận tuỵ thương yêu anh em. Có trận bom, có nhiều thương vong, các chị nhặt từng mảnh ruột, từng bàn tay, vừa làm vừa khóc, tình nghĩa đồng đội rất sâu sắc. Nay cho ai về sản xuất, ai ở lại. Nhưng rồi cũng ổn thoả, an tâm, người về gia đình sản xuất, người bổ sung sang quân đội chính quy, người vào tình báo, quân báo, người hoà lẫn vào dân hồi cư để làm nhân mối hoạt động nội thành của ta. Những cuộc chia tay liên tiếp thật vô cùng xúc động. Một hôm xuống kiểm tra quân số một trung đội được báo cáo đã giảm biên. Anh em điểm danh đến số 22, bỗng có một chú bé lao ra, tay cầm cái quạt nan, điểm tiếp 23. Thì ra trung đội phải nói dối trên, dấu quân số, chia khẩu phân để nuôi em liên lạc. Còn em thì đinh ninh mình vẫn là chiến sĩ trong đơn vị. Có hôm phải tiếp riêng một chị trước là me Tây nay xin được vào thành làm nghề cũ cốt để làm việc cho ta. Hôm tiễn chị ra Ba La Bông Đỏ, chị khóc rất lâu, tiếc không ở lại được với anh chị em để chiến đấu công khai.
Sang tháng 6, trời bắt đầu nóng. Chúng tôi đang họp ở Quế Sơn, cách Bồ Nâu một cánh đồng thì có máy bay Dakota lượn quanh. Chúng tôi đề phòng bị ném bom, nên rút ra ngoài sân đình. Máy bay lượn lại, hạ tháp, cánh cửa bên mở ra, rồi bay thẳng đi. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dự đoán được tình hình. Và hôm sau, chúng đã nhảy dù xuống Bồ Nâu, Úc Lý. Tiếng súng bắn liên hồi, từng cột khói bắt đầu bốc lên. Quân ta bố trí ở Tri Lễ, đợi đánh địch tràn vào. Nhưng địch chỉ phá phách ở Bồ Nâu. Hôm sau chúng rút, ta đánh vuốt đuôi. Xem ra địch cũng không cố tình sục sạo nhiều. Một đơn vị tuyên truyền xung phong của ta nằm dưới hầm đình làng Bồ Nâu không bị phát hiện. Cán bộ ta trốn trong cột rơm cũng thoát, các tài liệu máy chữ cũng dấu kịp, ta không mất một người nào. Nhân dân cũng thiệt hại phần nào.
Xem ra, đó là một cuộc tập nhảy dù chuẩn bị cho Thu Đông đánh lên Việt Bắc là chính.
Sau trận này, ta mới cảnh giác hơn: bí mật từ việc dùng giấy vệ sinh đến sắp xếp ba lô, tập báo động, di chuyển ban đêm v.v...
Vào tháng 9-1947, Khu uỷ XI quyết định lập Thành ủy Hà Nội, cũng là lúc tôi thôi giữ chức Bí thư Quận ủy, được điều động lên Tuyên huấn Khu XI và sang đầu năm 1948 thì về làm Trưởng ban Tuyên huấn Hà Nội.
Ảnh: Ban liên lạc Bạn chiến đấu Liên khu 3 - Đống Đa - Quận V. Ông Hồ Trúc (tên thật Nguyễn Tài Uyên) là Phó ban ngồi giữa, bên trái là Trung tướng, GSTS Đỗ Trình (nguyên Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Liên khu 3 Hà Nội trong 60 ngày đêm 1946) - Trưởng ban, bên phải là Thiếu tướng Hoàng Dũng - Phó ban.